Chương 70: Trên tấm bản đồ bị bỏ trống
Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại
Dư trở lại Cửa Nghiêng với một túi đất rất ít và một giỏ đồ ăn quá nhiều. Ông nhận mẻ ở bãi nam, đã lĩnh công, người đặt nhờ đem quà tới bến nên trên đường nhìn như ông có thể nuôi cả một thuyền người. Nhiên ra nhận giúp đầu giỏ, hỏi để đâu. Ông chỉ dưới mái, nhắc một gói dành riêng cho bà Lữ, rồi tự đem túi áo tới trả chỗ nghỉ. Quan hệ còn phải làm quen lại, nhưng nó bắt đầu bằng một người biết nơi mình muốn tới chứ không phải được ai gọi trở lại.
Hai tuần sau buổi Nhiên nói riêng với Uyển, họ nhận được ngày bà Quỳ có thể gặp. Người từng qua một phần Biển Quên đã về nhận việc ở bến ngoài, biết Dư qua người đặt đồ gốm. Bà không hứa gặp ai hỏi cũng chỉ được hết biển. Nhiên tới với Đậu và ông, Phương đi cùng quãng đầu rồi quay Cửa Nghiêng vì có buổi viết đã nhận. Cậu đóng bến tạm đúng lịch, giao thuyền thuê lại bà Lữ, đi một buổi hỏi đường mà chưa có nghĩa đã nhận rời mọi tuần sau.
Quỳ đang khâu mép buồm, một bàn chân giẫm vải để nó khỏi lật. Bà nghe Dư hỏi đất mặn trước, cười vì ông đem cái túi nhỏ như định mua đất theo từng nắm muối. Bà bảo đảo có đất khác nhau, mẻ bà từng mang về nung bị nứt còn không biết tại muối hay tay mình vụng, muốn biết phải tự tới hỏi thợ ở đó. Ông nhận câu chưa biết mà mặt vui hơn. Nhiên nhìn, thấy có những điều chưa được giải đáp vẫn đủ khiến một người muốn bước ra, không phải chỉ vì câu chuyện thân nhân còn thiếu.
Bản đồ Quỳ trải lên vải có một đường bờ, hai dấu đảo và nhiều chỗ trắng. Một góc ghi nước ngọt, một góc có hình mái thuyền của người bà từng gặp, ngày viết đã cũ. Đậu nhìn khoảng sau đảo thứ hai, hỏi giấy rách hay mực phai. Bà gõ ngón tay, nói mình để trắng vì chưa nhận dẫn chỗ ấy, không có một tờ ghi nào đi thay được chân thuyền. Mấy nét đầu cũng phải nhìn lại mỗi mùa, vẽ đúng lúc đi không đồng nghĩa người tới sau được quyền quên dòng nước đang khác.
Biển Quên giữ những quãng đường theo người thực nhớ đã qua. Trên mặt nước có thể gặp một mái trong đời mình, một giọng đã biết, không phải người thân bước ra cho tin mới. Quỳ từng hướng theo ngọn khói tưởng biết rồi phải quay, vì khói ấy từ một căn bếp mình nhớ mà chân đáy bờ không ở đó. Bà không mất hết trí nhớ vì ra biển; cái khó là muốn nhìn một điều quen quá, người ta dễ lấy nó làm mốc cho nơi chưa từng đi. Tờ giấy chỉ giúp nhắc, không cho chủ tờ giấy ký ức của người đã vẽ.
Nhiên hỏi có thể nhận bà dẫn một đoạn đầu không. Quỳ lắc, đã có việc giữ mùa buồm ở bến, không muốn đi xa lần này. Bà nhận dạy họ phần thuyền ven bờ, chỉ những quãng có thể tự đưa trở lại để tập, sau đó nếu đủ sẽ bàn thuê chiếc mình đang giữ. Một chuyến biển dài không dùng nguyên cách chèo sông cho xong. Nhiên biết giữ nước, Đậu quen mái phụ, Dư từng chống sào nhiều bờ, chưa ai trong ba người có quyền tự gọi vậy là đủ hiểu gió ở ngoài một dải đất khuất.
Buổi thử đầu, buồm nhỏ vừa lên đã giật Đậu lệch khỏi chỗ đứng. Cậu giữ dây chặt, nghe Quỳ quát nới, tay đã co vì sợ buồm đập. Dư nhận phần mạn, Nhiên đổi mái, tới khi thuyền về đúng góc cậu mới thở ra, lòng tay nóng vì dây. Không có vết thương dài, chỉ cái đau đủ khiến cậu nhớ mình đã tưởng buộc chặt giống giữ chắc. Quỳ hạ buồm ngay, bảo hôm nay học xong phần nới trước khi học nhận thêm. Cậu ngồi gỡ dây, không xin ra xa để chuộc cái vẻ vụng vừa bị thấy.
Sáu tuần sau đó có những ngày không xuống thuyền. Gió đổi, Quỳ cho ngồi trên bờ nghe nó quật vào lá vải, rồi hỏi hướng nào đem người về nếu mái trước gãy. Có hôm họ chỉ buộc lại chỗ treo, có hôm tập được một quãng ra mỏm và tự về bằng phần đã cùng nhìn. Nhiên vẫn nhận chuyến gần có công lúc trở lại Cửa Nghiêng, Đậu giữ ba buổi thuê nếu không trùng học, thiếu phải báo trước người đã hẹn. Không ai có tiền và một đời không việc để biến sáu tuần học thành sáu tuần được toàn thế giới nuôi.
Viên tới từ tuần thứ hai. Anh chỉ nhận muốn học một phần, chưa dám nói mình sẽ đi. Việc ở cửa thành đã có người thay những ngày vắng, chìa để đúng người nhận, không cất trong áo đem ra làm điều khiến mình phải quay về sớm. Quỳ hỏi có chịu làm phần nặng không, anh nhận, buổi đầu mắc vào dây buồm bằng cả hai chân, đứng một tư thế khiến Đậu cười phun nước. Anh đỏ mặt rồi cũng cười, tự gỡ một chân trước, nhờ cậu giữ giúp chân còn lại không vướng thêm.
Phương ghé hai lần theo chuyến hàng, nhận những ngày đi rồi về thực có thể. Lần thứ hai chị ngồi trên bờ nhìn bốn người cùng xuống, nghe Nhiên không còn chỉ nói mọi người làm theo mình mà hỏi Viên thấy góc sau ra sao. Anh nói một vệt đen giống cửa nhà, Quỳ bảo anh nhìn dưới chân nó có nước động thế nào. Đó là vách đá trong quãng ven bờ, không phải cửa nhà biết anh đang sợ gì. Người nhìn cần phân biệt trước khi đem cái mình muốn nghe thành một tên để cả thuyền theo.
Một buổi chiều, Quỳ nhận họ thử quãng khuất sau mỏm, nơi nhìn lại không còn mái bến. Nhiên nhìn một đá nghiêng như cái ghế thấp, ghi nhớ nó, chỉ Đậu cùng nhìn rồi tới Dư. Khi trở về, cậu thấy ghế nghiêng hướng khác, chỉ một mũi trắng khác, hai người cãi nhau trong lúc Viên giữ thuyền chậm. Họ đã đi cùng mà chưa nói đang nhận đúng mốc nào. Quỳ không cho bốn người gọi lớn hơn để thắng, chỉ chỗ còn thấy qua khe mỏm, đưa thuyền quay vào phần cả nhóm đã nhận trước.
Lên bờ, Nhiên vẽ đá mình đã nhìn, Đậu vẽ đá của cậu, cả hai đặt cạnh mới thấy có hai mũi gần nhau. Dư kể phần nước ôm gốc nào, Viên chỉ vệt rong ở bên anh. Mỗi câu là một góc thực đã trải, chưa câu nào đủ tự quyết tất cả. Lần thử hôm sau họ quay lại nhận cùng một vật từ cả hai hướng rồi mới đi tiếp, chậm hơn vì phải nhường nhau nhìn. Không có một lời đọc tên khiến giấy mang đủ trải nghiệm của bốn người; bàn tay đổi mái và mắt nhìn là phần họ phải trả bằng ngày thật.
Ở lượt sau, Đậu nhận thử nghe Nhiên gọi từ quãng gần khi một mái quen trong trí làm mắt mình muốn quay sang. Cô gọi tên cậu, nhắc cọc rong cả hai vừa giữ, không gọi một vai học trò phải theo. Cậu quay về nhìn đúng cọc, giữ mái, màu nước trước chân đá rõ hơn vì không còn lấy mái hiên mình muốn thấy che lên nó. Một lần gọi đã làm cổ cô khô, lần thứ hai phải đợi uống nước. Quỳ hỏi nếu một đêm cả bốn cùng mệt thì ai còn nhận dấu. Không ai được biến giọng Nhiên thành thứ luôn có sẵn để mình khỏi học nhìn. Cô nghe, vẫn thấy vui vì đã giúp được cậu, và phải học giữ cái vui ấy khỏi trở thành phần mình cứ âm thầm nhận thêm.
Dư mua một lọ đất ở bến, chỉ để nguyên mẫu của nơi đã biết, không lấy làm vật giữ đường hộ mọi người. Lúc hong áo, tờ riêng Cẩn vẫn nằm trong túi, Nhiên thấy ông tự chuyển vào chỗ khô rồi quay lại đồ của mình. Ông nhìn cô, không nói thử xem còn nhớ lời không. Họ đã có mấy buổi chèo cùng mà không cần đưa cái giận lên từng giờ, vẫn không biến sự yên ấy thành quyền hỏi tên anh khi một người bán gốm nhắc nghề cũ.
Quỳ nhận cho thuê chiếc thuyền mình thường dùng tới hai đảo trên bản vẽ. Có một buồm thấp, mái đủ để đổi khi gió không nhận, khoang nước tách chỗ đồ khô; trên thuyền không có kho đèn chứa sẵn trí nhớ cho người lạc dùng. Bà đem họ tới xem, để từng người thử chỗ ngủ chật, thấy ba tháng đường dài có thể nặng tới đâu trong những ngày chẳng có cảnh biển đẹp. Đậu co chân, Viên va đầu vào xà, Dư ngồi xuống bảo nếu biển không làm mình quên gì thì cái xà này cũng đủ làm choáng.
Nhiên đứng ở mũi, nghe Quỳ nói phần ngoài hai đảo bà không nhận chỉ, người muốn tiếp phải hỏi thêm nơi tới. Cô có thể chọn đi một quãng rồi về, không cần vượt hết cái tên Biển Quên mới được coi là đã tới. Muốn tìm người thật đã thôi những lời gọi cũ, muốn thấy cách ở xa thành vẫn sống, đều là việc có thể hỏi từng phần. Không thể biến chuyến ấy thành đòi một đáp án đặt vào tay Uyển để cô hết sợ và trả tự do cho mọi người.
Cuối buổi, bà hỏi ai sẽ nhận thuê. Bốn người im một lúc, không phải vì giấu chí lớn, bởi câu ấy có tiền, giờ vắng việc, người nhận chỗ cũ, có cả đêm mình sợ muốn quay lại. Nhiên xin ngày trở lại nói, Quỳ nhận giữ thuyền tới hạn đã hẹn, sau hạn có người khác hỏi thì trả lời họ. Viên nhìn vải buồm chưa gấp, nói mình cần về thành một lần để hỏi đúng người thay việc, không chỉ để chìa rồi mong ai khác tự hiểu mình đang rời lâu.
Đậu trở Cửa Nghiêng với tay vẫn sạm dây. Cậu nhìn bảng giờ, tự mở sổ những lượt đã hẹn, có một người tới hỏi chuyến tuần sau, cậu chỉ nhận ngày mình chắc còn ở. Nhiên thấy cậu ngừng ở các buổi khác, không chen nói cô nghĩ cậu nên đi. Bến tạm đã cho cậu một chỗ đứng, bây giờ chính vì có chỗ ấy, việc lên một thuyền khác không được quyết hộ như thuở chỉ có lời muốn học. Cô đi nấu nước, nhận một ngày cần ngồi với lựa chọn của chính mình.
Dư đem lọ đất tới Phương xem, kể Quỳ nói ở đảo có người nung được màu lạ nhưng hàng trôi qua không biết ngày nào còn. Ông muốn xem, có thể sẽ chỉ hỏi nghề rồi tự biết không muốn đi xa thêm. Chị nhận, hỏi có cần gửi đồ về xưởng trước không, không nhắc Cẩn. Ông nói có, một món đang nợ giao phải giải trước, mai sẽ viết đúng người. Giữa câu chuyện một chuyến chưa nhận, họ vẫn có những việc đã nhận cần làm cho xong, không ai được dùng biển để bỏ mặc phần ngày ở bờ.
Đêm, Nhiên trải bản vẽ Quỳ cho mượn chép phần biết, giữ các khoảng trắng. Cô viết thêm ngày thử, tên những mốc cả nhóm đã thực nhìn, không vẽ bù đoạn ngoài bằng nét tay đẹp. Phương đem đèn thường tới, ngồi cạnh, hai bóng người hiện trên giấy mà chẳng bóng nào hóa thành người thân đã mất. Chuyến đi chưa bắt đầu, những khoảng chưa biết đã đủ khiến cô vừa muốn vừa sợ. Cô gấp bản lại trước khi tay tự muốn nối một đường cho hết trống, đợi buổi ăn sẽ hỏi từng người muốn ngồi ở đâu trong quãng còn lại.
Chương 71: Bữa ăn ở bến tạm
Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại