Chương 60: Những bức thư chưa gửi
Mục lục cuốn sách90 phần
Phần 60 / 90

Chương 60: Những bức thư chưa gửi

Khoảng 12 phút đọc

Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại

Gió giật lá thư khỏi dây phơi trước khi chị Tước kịp chặn cửa. Tờ giấy bay ngang sân, mắc trên cành dâu thấp rồi rơi xuống nước, mặt chữ úp vào lớp bèo. Phương chạy theo, dừng ở mép bậc khi Dư quát bên đó không có đáy đứng. Chị lấy cây sào người giữ sân đưa, nằm nghiêng trên nền, kéo nhánh bèo chậm cho giấy trôi vào. Nhiên giữ lưng áo khỏi trượt, không biết trong tờ thư có chữ gì đáng để một người sắp ngã theo nó như vậy.

Khi lấy được, nét mực đã nhòe. Tước trải trên tấm lưới mỏng, chặn bốn góc, nói may là bản người gửi còn giữ, bản này định trả về vì thiếu nơi nhận. Phương ngồi dậy, đầu gối ướt, hụt hơi vì điều mình vừa giữ không cứu được hết. Tước không trách chạy quá nhanh, cũng không cảm ơn như thể giấy phải được đặt cao hơn người. Chị đem khăn cho cả hai rồi nhờ họ giữ cửa tới khi gió ngừng, để những lá khác khỏi cần được cứu thêm lần nữa.

Họ đã đi hết chặng đầu từ chợ, phải đợi nước qua bãi cạn mới tới Giếng Cũ. Người chèo nhận dẫn tới sân cây dâu này, một nhà giữ thư và chỗ nghỉ do Tước thuê sau khi thôi các chuyến xa. Chị không nhận mọi địa chỉ, chỉ những tuyến đã đi còn người qua lại để hỏi. Bên vách treo phong bì nhiều mùa, có món không tới được vì người nhận chuyển, có món người gửi viết đủ tên mà chưa từng hẹn một nơi họ muốn nhận. Giấy ở đây không tự tìm ra người chỉ vì ai đó nhớ họ nhiều.

Tước lấy đúng tập có dấu Chỉ Thưa, chỉ biết đồ âm từng theo một đoàn hàng qua. Người giữ mái Giếng Cũ có thể nhận ra dấu trên giấy Phương, chị chưa đến nên không nói hơn. Dư hỏi đường cạn có thể đi bộ vòng không. Tước bảo được một đoạn, qua chỗ cây đổ cần người biết nền, chưa hẹn được người ấy thì đừng lấy đôi chân trên cạn làm điều bảo đảm. Họ nhận nghỉ một đêm, Nhiên xếp nồi ở bếp chung, vai mỏi sau chuyến phải chống ngược hai khúc nước.

Buổi chiều, một người đàn ông tới sân mang hộp thư chưa gửi. Ông tên Khâu, còn sống, vợ đã chết, vẫn đi được giữa những bến nhận khách người sống ở cõi sông rồi về nhà mình. Ông không đòi thuyền đưa vợ về đời cũ. Ông muốn nếu bà đã đi ngang một mái thì ở lại đó, để lần mình sang khỏi chỉ nhìn ghế trống. Tước hỏi thư đã định nhờ chuyển chưa. Ông mở hộp, lấy một tờ rồi đổi tờ khác, tờ nào cũng bắt đầu bằng chuyện căn nhà thiếu người sửa lại vạt vườn.

Ông thuê một gian phía ngoài, đặt hộp lên bàn, mở một câu vợ từng nhắc coi chừng ấm nóng. Giọng giữ âm từ lúc sống chỉ nói câu ấy, vẫn làm ông nhấc tay khỏi chén dù chén hôm nay đã nguội. Tước đem tới một phần cơm, nhắc nếu muốn nghe thì khép cửa cho người khác ngủ. Ông khép, không vì câu nhỏ mà có quyền gửi nó ra cả sân. Phương ở gian kế nghe tiếng then, nhìn phong bì ghi Mai, bỗng hiểu việc nhỏ ấy chính mình đã có thể làm từ rất lâu.

Trong phong bì chị mang có thư Mai đã nhận và một bản đáp chưa gửi. Bản đáp viết từ hồi còn ở Bến Mưa, nhiều lần thêm dòng rồi gấp lại. Chị đọc một mình trước khi đem xuống bếp, nơi Nhiên đang nấu nước. Có câu chị nhờ em nghĩ cho người ở lại, câu khác hứa nếu em về mái sẽ không hỏi em đi đâu nữa. Càng đọc càng thấy những lời muốn giữ không cần phải hung dữ. Chúng có thể dịu, có thể đầy lo lắng, vẫn đặt sự yên tâm của người viết lên ngày mai của người nhận.

Chị hỏi có thể đốt bản ấy không. Nhiên đáp nó là bản chị chưa gửi, chị quyết được, nhưng không cần đốt cả thư em chỉ vì để chung một phong bì. Phương tách hai tờ, cầm phần mình trước lửa mà chưa thả. Chị sợ làm thế giống người nghĩ xóa chữ là xong việc. Cô đang xếp củi, không nâng câu hỏi thành một phép thử đạo đức. Cô nói muốn cất để nhớ cũng được, muốn bỏ vì không còn dùng cũng được, người đang giữ tiếng Mai chưa biết chuyện chỉ vì chị đứng bên bếp.

Phương gấp bản đáp vào túi khác, chưa chọn ngay trong lúc mệt. Chị viết lời gửi Mai mới, không có địa chỉ để nhờ Tước chuyển, trước mắt viết để mình biết nếu một ngày nhận được tin thì muốn nói điều gì. Chị nhận đã giữ gọi sau lời em, không hỏi em phải viết lại cho biết đã tha. Có những dòng không sao viết cho nghe đẹp, chị cứ để xấu. Đến lúc hết giấy, chị ngồi bên ấm, thấy Nhiên thêm củi bằng con dao nhỏ mình đem trả, một món đồ tìm lại được mà không đòi sống lại buổi nó bị quên.

Khâu xuống bếp lấy nước, nhìn giấy hỏi có viết cho người ở bờ không. Phương nhận, ông xin xem cách ghi đầu thư vì đã viết nhiều quá vẫn chưa thư nào đúng. Chị không đưa tờ riêng, chỉ hỏi ông muốn người nhận biết điều gì. Ông nói muốn bà ấy về mái đợi, mình có thể sang đúng kỳ. Nhiên ngừng tay, không nói câu ấy giống mình từng nghe tới mức nào. Khâu thấy hai người im, đỡ hộp trên ngực, thêm rằng không bắt về căn nhà cũ, mình đã biết một người chết không thể trở lại sống cùng như trước.

“Nhưng ở mái đó là điều bà ấy muốn không?” Phương hỏi.

Ông trả lời chắc hẳn muốn có người nhà tới. Chị nghe từ chắc hẳn, không lấy một sự chắc hẳn khác là người chết luôn muốn đi thay vào. Chị nói nếu chưa biết thì có thể hỏi, không gửi lời mình muốn làm lời bà đã nhận. Ông ngồi xuống cạnh cửa, kể lần cuối hai người cãi nhau vì vạt vườn, chuyện nhỏ đến mức sau tin chết ông chỉ muốn nhớ một bữa khác. Không có ai ở sân biết vợ ông đang đâu, không có bức thư nào đọc xong biến ông thành người chồng đã được gặp lại để nói cho trọn.

Khâu xin Tước giữ hộp thêm một đêm. Chị từ chối vì không còn chỗ, bảo ông đã thuê gian thì giữ cạnh mình được, mình chỉ nhận món thực gửi trên tuyến đã nói. Ông bực, hỏi nghề thư sao khó với người nhớ thân nhân quá. Tước kéo cánh cửa bị gió giật, bảo người nào gửi cũng có nỗi nhớ, đêm nay chị còn phải sửa then. Ông im, nhìn chị kê ghế để với tay, cuối cùng nhận giữ ghế. Phương thấy hai người làm một việc cùng nhau mà không cần bất cứ ai đồng ý trước rằng nỗi nhớ của ông đã đặt đúng chỗ.

Gần tối có một bà tới nhận lại thư con gái. Người con còn sống, gửi sang cõi sông nhờ nếu mẹ tới đây thì nhận; bà đã ghé ở một bến khác, biết con dời nhà sau trận nước. Tước trao đúng món người chuyển đã nhận gửi theo tuyến, không đọc cho người ngoài nghe. Bà mở, bật cười vì con kể mất cái nồi mẹ cứ giữ từ ngày thủng. Rồi bà khóc, cất giấy vào áo, hỏi có người nào đi lại để mình nhắn rằng cái nồi vứt được, không cần giữ vì sợ mẹ buồn. Tước ghi tên người tới lượt sau, chưa hứa thư lập tức tới nhà con.

Phương nhìn người mẹ rời sân, không có bước chân nào bị níu vì một lá thư yêu thương. Một vật có thể đưa người ta một câu thật, cũng có thể bị dùng thay câu người nhận đang nói. Tước xếp bàn sau lượt cuối, thấy chị nhìn thì bảo không phải thư nào cũng cần người khác sửa giùm. Chị nhận, cười vì chính mình đã sắp đem lỗi riêng phủ lên cả đống thư. Bên vách còn nhiều phong bì chưa gửi nổi, không ai được lấy đêm gió làm dịp đốt hết để giải phóng những người mình chưa hỏi.

Dư ở bếp làm thêm một chiếc nắp từ đất thừa người quanh sân cho, không nung ở đó, chỉ thử cỡ. Tờ viết Cẩn trong áo ông bị ẩm, ông đem hong ở chỗ không có lửa tạt, đặt mặt chữ xuống. Nhiên hỏi đã định gửi chưa. Ông nói chưa, nhờ cô đừng đem tên hỏi hộ Tước. Việc tìm người từng biết anh có thể dẫn tới những người muốn kể về buổi ông không muốn nhận lại, ông cần được chọn lúc nghe. Cô gật, nhìn miếng đất dưới tay ông nứt vì trộn thiếu nước, không nói mình chỉ muốn biết nơi chứ chưa hỏi chuyện.

Đêm ấy mưa tràn sân, tấm lưới phơi thư phải được mang vào mái bếp. Cả nhóm đứng dậy giúp, Khâu giữ một đầu, Phương chặn giấy, Dư gỡ đinh. Có phong bì thiếu tên người gửi, có tờ chỉ vẽ một cái cổng, Nhiên không lật đọc bên trong để giúp tìm chủ nhanh. Họ chuyển cả lưới, ướt một bên vai, đem về công việc nhỏ có thể làm được trong gió. Khâu trượt chân ngồi bệt xuống vũng, làm đầu bên mình chùng, Tước vừa giữ vừa chửi, ông cười ngượng rồi bò dậy làm tiếp.

Khi lưới đã treo trong mái, Khâu xin lỗi vì câu nói nghề thư lúc nãy. Tước vặn áo, nhận mình cũng giận quá nên nặng lời ở chỗ then, song hộp riêng vẫn không nhận thay. Ông về gian, hôm nay chưa gửi một tờ nào. Phương chúc ngủ, không đem câu hỏi vợ ông muốn gì nhắc thêm lần nữa để chắc rằng ông đã học. Chị tự biết một buổi chịu nghe không làm những buổi sau hết muốn quay lại lối cũ. Trong túi chị, thư Mai vẫn khô, còn nguyên chỗ chính tay em sửa chữ về thành ghé.

Trước lúc ngủ, Dư đem nắp đất ra nhìn lần cuối, thấy một bên đã sụm vì khăn ướt đặt đè. Nhiên giữ đèn cho ông, không đủ sáng để làm lại hết. Ông chọc một lỗ vào giữa, bảo mai trả đất chủ sân, không mang cái nắp chưa nung qua ba bến để chứng minh một buổi tối mình có làm việc. Cô cười, nhấc đèn cao khi ông rửa tay, tự thấy dễ chịu vì được ngồi bên một người chịu bỏ món làm hỏng. Ông giũ nước, nhắc cô ngủ, ngày mai cần đi bằng chân chứ đèn không soi hộ được nền bùn. Lời nhắc chẳng có gì thân mật lớn lao, vậy mà cô đã mang cảm giác được tin ấy tới buổi sáng.

Sáng sau người dẫn đoạn cạn tới, hẹn sau bữa sẽ nhận ba người vòng qua bãi. Dư ra kiểm tiền công, còn Nhiên gặp người hàng mang một mảnh gốm từ Cồn Nâu, đúng kiểu dấu ông đã hỏi ở chợ. Người ấy nói ông Bỉnh ở bến đó từng cùng nhiều thợ đi lò, có lẽ biết tay nào làm mảnh này. Cô nghe, hỏi quãng ấy lệch bao xa rồi ngừng. Dư vừa nói đừng hỏi hộ, lời ấy còn mới. Cô biết mình nên kể thông tin và để ông chọn có muốn nghe thêm không.

Phương bước ra với túi giấy đã tách. Chị không gửi thư mới của mình cho một người chưa hẹn nhận, chỉ để bản rút lời cần trao ở Giếng Cũ dễ lấy. Nhiên nhìn chị, nhớ buổi chị ngồi chịu đọc đúng câu Mai. Có những điều cô khuyên người khác rất rõ, tới việc mình muốn làm lại trở nên mơ hồ như sương trên bãi. Người hàng còn đứng chờ một lời có nhờ chuyển không. Cô bảo để sau, nhận chiếc nồi Dư đưa, đi nốt quãng tới bữa sáng mà câu hỏi Cồn Nâu vẫn theo trong đầu.

Trang sách tiếp theo

Chương 61: Thạch Dư quay lưng

Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!