Chương 31: Đèn không chỉ đúng hướng
Quyển II — Bờ Của Những Tên Gọi
Thuyền sáng rời bờ dài trong sương, người chèo không buộc dải trắng, chỉ đeo một chiếc còi gỗ đã sứt. Ông nhận chở tới bến Vườn Đá, còn quãng vào thành phải đợi người tuyến sau. Hai hòm được đặt dưới mui, có ván ngăn khỏi chỗ giẫm chân. Rực ngồi cùng nhóm, tự ôm túi, trả phần chỗ mình trước khi Nhiên hỏi. Ông bảo đi cùng không có nghĩa mọi món đều chung một túi tiền.
Nhiên ngồi cạnh cửa mui. Tia sáng bình thứ sáu lọt qua một nếp vải, chiếu thành vệt mảnh trên ván. Khi thuyền vòng mỏm, vệt ấy đổi hướng rồi nằm ngang cánh cửa một căn nhà trên bờ. Cô ngẩng nhìn. Nhà có giàn cây thấp và hai chiếc chuông đất buộc gần cửa. Một chiếc lớn hơn chiếc kia nhiều, vẫn có lúc ngân liền thành ba nhịp vì gió đẩy tua chạm lại.
Cô hỏi người chèo ở đó có ai tên Nghị không. Ông nói không biết tên hết mọi nhà, bến kế có người trồng cây lâu năm có thể hỏi. Rực nhìn vệt sáng, hỏi bình biết đường tới chủ chăng. Nhiên định nói chưa chắc, rồi nhận ra tay mình đã lấy sổ như thể vệt sáng vừa cung cấp một địa chỉ. Cô nói chưa từng thấy nó làm được thế, chỉ muốn hỏi bộ chuông, không yêu cầu ông bỏ tuyến ghé ngay.
Đậu nghiêng người che nếp vải. Vệt trên ván tắt. Cậu nhấc tay, nó hiện lại gần thành mui, không còn chỉ căn nhà. Thuyền đã đổi góc. Dư nhìn miệng hòm, bảo lớp men ở bình ấy lồi một phía; ánh lọt qua chỗ lồi có thể kéo dài. Ông không biết vì sao âm vẫn tự rò, nhưng một vệt đi theo góc thuyền chưa thành lời chỉ đường. Nhiên đặt sổ xuống đầu gối, thấy tiếc trước cả khi có điều để mất.
— Vẫn hỏi nhà có chuông được không? — Đậu hỏi.
— Được. Nhưng kể đúng vì mình thấy chuông.
Cô kéo lại lớp vải vừa đủ che sáng, không bịt chặt làm bình cọ nhau. Sự im của hòm không cho cô biết mình đang đi đúng hay sai. Người chèo thổi còi báo thuyền tới khúc hẹp; tiếng gỗ đục rơi vào sương, một thuyền hàng đáp lại từ sau bờ. Tiếng ấy mới đưa tới một người đang thật sự có thể đổi hướng cho họ.
Vườn Đá có những luống cây mọc trong khe đá đen. Nước được dẫn bằng máng tre, chảy qua từng luống rồi xuống bể. Người trông vườn đang cắt một nhánh cong, nghe hỏi Nghị thì lắc đầu. Bà biết căn nhà có hai chuông, chủ tên Tuyền, trước ở một nhánh khác. Đậu hỏi trước có phải mang họ Lê không. Bà ngừng dao, nhìn cậu, bảo muốn hỏi chuyện một người thì tới gặp người ấy; bà có thể chỉ nhà, không thay họ mở các tên đã thôi dùng.
Cậu nhận lời, giúp bà chuyển một rổ cành khỏi lối rồi về báo. Nhiên không gửi cả mười tên để bến gọi tìm giúp. Cô chọn tờ thông báo ngắn: người đã qua Bến Mưa, có phần ký ức từng giao mà nay muốn hỏi lại, có thể gặp nhóm tại mái nghỉ tới chiều sau. Không đọc tên nào trước mọi người, không viết ai chưa tới là chưa chịu nhận. Rực đọc tờ ấy, hỏi người không nhớ mình đã giao có biết cần tới không.
Câu hỏi khiến cô cầm bút lâu hơn. Cô thêm rằng người có một khoảng nhớ thiếu và từng bị lấy đèn cũng có thể hỏi, không cần tự chứng minh trước rằng mình bị lấy sai. Tờ giấy không gọi được tất cả, nhưng ít nhất không bắt người thiếu phần nhớ phải nhớ đủ mới được gặp. Người trông vườn cho treo ở mái, bảo chỉ có người tuyến này nhìn thấy; các luống sâu bà sẽ nói khi gặp, không bỏ việc đi gom người.
Chiều đó Tuyền tới, áo dính đầy nhựa lá. Bà nhìn giấy rồi hỏi đèn có giữ được tiếng một cái chuông không. Nhiên đáp có thể, nhưng âm không đủ xác định của ai. Bà nói từng qua Bến Mưa từ lâu, đã đưa một phần về buổi trồng cây cùng chồng, nay vẫn chưa muốn nhận. Chuyện của bà có thể không nằm trong mười bình này. Nhiên hỏi có muốn đối chiếu riêng dòng ghi của mình không, bà suy nghĩ rồi gật.
Tên cũ bà tự nói không có trong danh sách. Nhiên nhìn lại cả những dòng đã hoàn trả, không thấy, hẹn gửi bến hỏi sổ kỳ trước vì mình mang không đủ các năm. Tuyền không nổi giận, chỉ hỏi bao giờ có thể biết. Cô chọn một chỗ nhận tin bà vẫn dùng, hẹn sẽ gửi phần biết trước ngày rời ngoài thành, phần phải chờ bến sẽ nói đúng là phải chờ. Bà cất tờ hẹn, không bị đưa ra làm chứng mười đèn đã tìm thêm được chủ.
Tuyền mời Nhiên đi xem hai chuông đất vì cô còn hỏi. Nhà không có ảnh người nào đứng chờ. Một vạt rễ bò qua bậc, bà phải cúi vén để mở cửa. Chồng đã qua bờ khác từ trước, bà còn ở vườn vì muốn thấy một cây lớn lên sau những lần mình tưởng nó chết. Hai chuông do người buôn để lại đổi cây giống, âm cao thấp không theo bộ ba. Tiếng thứ ba Nhiên nghe là tua tre gõ vào miệng chiếc lớn.
Cô đứng bên cửa, nghe đủ một cơn gió. Cảm giác gần lời giải tan rất chậm. Tuyền rót nước, hỏi cô đã muốn tới đây vì người có chuông hay vì không chịu nổi việc còn chưa biết. Nhiên bật cười, đáp cả hai. Bà nói mình hỏi thế vì đã đi tìm một cái bóng cây đúng hình trong ký ức rất lâu, rồi khi trồng được cây mới lại chê nó nghiêng. Câu ấy không biến hai người thành giống hệt nhau, nhưng làm Nhiên ngồi xuống được mà không muốn xin ra xem chuông lần thứ ba.
Đậu ở mái nghỉ cùng Rực và Dư. Khi Nhiên trở về, cậu đang so từng dấu niêm trên danh sách, không thử lắc bình nghe. Dư yêu cầu cậu đọc số bằng mắt trước khi chạm tay vì ngồi lâu sẽ dễ lấy nhầm hàng. Rực nhìn, nói nếu cái gì nằm trong bình cũng đợi người tới nhận thì có thứ sẽ chờ mãi. Đậu bảo ở bến có người đã trả lời muốn để nguyên, không phải tất cả chờ đều do chưa tìm được.
Ông khách nghĩ một lúc rồi nói mình đang ngồi đây cũng vậy, đi tìm nhưng chưa biết sẽ muốn mang điều gì đi tiếp. Dư nhấc chiếc ấm rỗng, hỏi ai muốn đi lấy nước trước khi điều đó thành việc chờ mãi. Rực đứng lên cùng Đậu. Hai người ra luống theo máng, ông chỉ cậu cách đặt chân để khỏi đạp cây con. Cậu hỏi có từng trồng vườn không. Ông nói từng giết nhiều cây hơn trồng sống, bởi vậy giờ nhìn gốc nào còn xanh cũng thấy nể.
Hai người trở lại với một thanh gỗ ông Rực xin ở bờ máng. Ông khoét nông một đầu để mắc quai thùng, nhờ Đậu thử nhấc trước khi mài cho nhẵn. Cậu muốn làm nhanh, gỗ cọ vào ngón tay, bị ông giữ lại chỉ chỗ phải vát. Ông kể con trai tên An, rất ghét việc cha cứ sửa món mình đang làm, có lần đục hẳn một chiếc ghế lệch rồi bắt cha ngồi để chứng minh vẫn dùng được. Đậu hỏi ghế có dùng được thật không. Rực bảo có, nếu người ngồi chịu đặt một chân xuống đất suốt bữa. Cậu cười rồi thôi nhờ ông khoét hộ, tự vát chỗ vừa được chỉ. Khi đưa thùng đi lần sau, quai đứng chắc hơn. Ông không nắm bàn tay cậu để đổi từng động tác, chỉ ngồi đó chờ xem cậu có muốn hỏi thêm.
Nhiên mở sổ ghi riêng Tuyền chưa đối chiếu được. Cô không gộp tên bà vào mười dòng cho danh sách trông bớt im. Bên dưới, cô chép góc căn nhà và chuyện hai chuông, gạch phần phỏng đoán ánh chỉ hướng. Mũi bút mạnh đến thủng giấy một điểm. Cô hạ tay, lấy tờ lót trước khi viết tiếp. Cả việc nhận mình đã hy vọng quá nhiều cũng không cần được làm bằng một vết thủng để người khác nhìn thấy.
Tới chiều sau vẫn không ai trong mười dòng tới. Nhiên ở thêm một lượt đò cho người trông vườn kịp báo các nhà sâu. Dư nhận đi tìm đất trắng rồi về đúng giờ đã hẹn, mang mẫu trong một túi nhỏ, không gom cả nhóm đi theo xem. Đất ông muốn mua phải tới kho gần thành mới có nhiều. Ông quyết định cùng thêm quãng, mua hàng xong sẽ xem chuyện ở lại, chưa nhận một lời ràng buộc tới cuối hành trình.
Lúc chuẩn bị xếp đồ, một cậu bé đưa tới lời nhắn nói người giữ máng phía trên muốn hỏi. Tịnh đi cùng Nhiên, đường vòng qua luống đá. Người nhắn đã già, tai kém, nghe thông báo thành ai bỏ quên một ngọn đèn thường. Ông giữ chiếc đèn gió của khách nào đó từ lâu, muốn trả. Nhiên nhìn món bị bám khói, không phải bình ký ức. Cô giải thích, giọng chậm để ông nhìn mặt, hỏi có muốn nhờ bến treo tin về chiếc đèn này không.
Ông nhận, đọc dấu khắc dưới đáy. Tịnh chép đúng dấu, không biến chuyến tới nhầm thành vô ích. Khi quay ra, cô hỏi Nhiên có tiếc ngày đợi thêm không. Nhiên đáp có, rồi cùng cười vì mình vẫn còn muốn nói câu nào đó nghe rộng lượng hơn. Họ đã mất một ngày cho người không phải cần tìm, dù giúp được một món khác. Ngày ấy vẫn nằm trên đường, sẽ phải tính khi nhìn thư cha của Tịnh và thời gian người mua đất cần về.
Rực không giục. Ông tự tìm một việc xách nước đổi bữa trưa, về với vạt áo ướt. Thấy Nhiên nhìn, ông nói ngồi đợi có thể làm tay mình bồn chồn, làm việc đỡ hơn cứ sờ mẩu gỗ. Cô đưa khăn, không khen ông đã sống tiếp đúng cách. Ông nhận, gấp đặt trên gối, nhắc sáng mai muốn được đi trước khi mình nhận trồng hộ cả một luống cây rồi lại không đành rời.
Người tuyến đã nhận lại thuyền, nhóm thuê một chiếc nhỏ ở Vườn Đá cho quãng có thể tự chèo. Chỗ trả ở bến nhận trước tuyến cuối vào thành, chủ thuyền có người quen nhận lại tại đó. Nhiên cùng Đậu thử mái trên khoảng nước trống, Rực đếm chỗ đồ, Tịnh hỏi rõ phần ngày chờ thêm nếu nước đổi. Họ nhận đủ hai mái và sào, không mang theo tiếng còi gỗ của người tuyến đã rời.
Đêm cuối ở Vườn Đá, Nhiên ra máng nghe nước. Dư theo, mang mẫu đất rửa trong bát. Ông hỏi mười bình có nặng hơn lúc đầu không. Cô đáp vẫn bằng ấy, còn danh sách đã dài thêm vì Tuyền và chiếc đèn gió. Ông cười, bảo nếu muốn mang hết bằng tay thì đến thành cũng không còn chỗ ngồi. Cô nhìn dòng qua từng luống, lần đầu hỏi ông có chịu giữ một bản sao những nguồn đường đã đi không.
Dư hỏi để làm gì. Cô bảo nếu mình lạc hay cứ bám một điều tưởng thấy, người khác phải biết đủ để cãi. Ông nhận phần đường mình đã cùng qua, không nhận những gì chỉ đọc trên giấy rồi biến thành đã nhớ. Hai người ngồi vẽ từ bờ dài tới vườn. Chỗ cọc người chèo thổi còi, họ nhớ khác một góc, sáng mai sẽ hỏi lại từ bậc trước khi đi. Mẫu đất chìm dưới đáy bát, không phát sáng.
Trở vào mái, cô nhìn hai hòm đã phủ vải. Mười ngọn đèn không quay mũi về nơi có người thân, không chớp để báo mình sắp tìm đúng. Những chủ chưa gặp có thể đã chọn tên khác, chọn ở một bến khác, hoặc chưa muốn có ai mang quá khứ tới. Nhiên đặt sổ gần phần đồ mình phải giữ, rồi nằm xuống bên cửa. Ngoài luống, nước tiếp tục đi theo máng người ta đã cùng kê, không cần một tiếng gọi để tìm chiếc lá đang khô.
Chương 32: Một lần gọi nhầm
Quyển II — Bờ Của Những Tên Gọi