Chương 64: Mái nhà giữ tiếng khóc
Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại
Mai khóc trước khi Phương thấy chiếc chén. Chị đứng ở cửa Giếng Cũ, nghe một hơi hít ngắn quen tới mức bàn tay tự tìm vạt áo để lau nước mắt cho em. Trước mặt chỉ có một tấm vải nhuộm phơi ngang khung, dưới chân là thau cạn, không gương mặt nào ngẩng lên. Người giữ mái mang chén từ giá ra, hỏi đúng giọng chưa. Chị gật, phải vịn cột mới đứng yên, bỗng giận câu hỏi ấy giản dị quá trong lúc cả người mình đang muốn lùi về một buổi đã mất.
Đây là sáng sau khi Dư rời sân dâu. Nhiên còn ở nhà nghỉ gần bến, ngày mai mới nhận chuyến quay chợ. Phương đã xin tự qua trước, không gọi cô tới chỉ vì bàn chân mình vừa khó đứng. Người dẫn đoạn ngõ chỉ tới giếng rồi về, chị đã nhìn hai hướng đường trả đủ, biết mái cong nào phải đi vòng. Chén nằm trên bàn thật, có ba mấu nhỏ dưới thân chị từng thấy, mặt vân bị sẫm một góc sau nhiều năm dùng. Nó chưa từng biết chị đang tới để chịu nghe phần nào.
Người giữ tên Ôn, nhận mái sau khi món âm từ Chỉ Thưa sang. Ông không gặp Mai, không biết em có từng ngồi ở sân này. Thư Phương đã tới qua lượt Tước hẹn, ông đem ra cùng dấu nhận đồ cũ. Chị đưa thư Mai, chỉ phần rút lời, tự đọc cho ông nghe. Ông bảo trước đây người nhà vẫn muốn giữ, mình chỉ làm đúng phần nhận. Phương nói người nhà ấy là mình, đã không chuyển lời em, nay không muốn ông tiếp tục dùng sự chờ của mình để gọi em ghé nữa.
Ôn nhìn vào gian, hỏi nếu Mai tự tới thì sao. Chị đáp nếu em tới, ông có thể hỏi em muốn nghỉ chỗ nào như hỏi một người mới, không đưa vào buổi khóc vì đã có chị đợi. Câu trả lời khiến chị đau như vừa từ chối một cơ hội có thật, dù không ai biết em hiện ở đâu. Ông đặt chén xuống, ngón tay vẫn tì cạnh vân, chưa mở thêm. Những năm giữ mái dạy ông đừng làm người đang nhớ mất bình tĩnh; hôm nay chính người nhớ xin một việc không giống được dỗ.
Chị xin nghe hết đoạn mình đã gửi, một lượt, không mở lại khi chưa được nhờ. Ôn nhận, đặt ngón tay vào vạch khởi ở chỗ bắt đầu. Giọng Mai thấp ở đầu vì vừa khóc vừa nghẹt mũi, rồi bực lên khi bảo chị đừng nhìn mình như thể mai không đi nổi. Phương đã nhớ tiếng khóc rõ hơn câu cãi. Em còn nói sợ không về kịp bữa nếu đổi chặng, chị cứ ăn trước, đừng đợi đói rồi mắng. Ở cuối có một tiếng cười sụt sịt, không hợp với căn phòng bày toàn nỗi chia lìa nhưng vẫn còn trong vân gốc.
Khi đoạn hết, Phương định hỏi em có thật vui ở xưởng sau đó không. Chị đã từng nhận những bức thư vui, cũng có thư khổ, vẫn thèm một câu ngay lúc này nói cho mình biết đã hiểu đúng. Chén im. Câu sắp hỏi đứng trong miệng không tìm được người hiện tại để nhận. Chị không gọi Ôn mở lại mong lượm một âm mình bỏ sót sẽ thành câu trả lời mới. Chị ngồi xuống ghế, xin bát nước thường, nhìn tấm vải chỉ được dựng từ màu mình từng kể, không phải vải em giữ ở nơi cuối đời.
Ôn đưa nước, nói có thể sửa gian cho giống hơn nếu chị nhớ thêm. Ông chưa hiểu vì sao người nhận muốn thôi trong lúc nét mặt còn đau thế. Phương giữ bát, nhìn cửa, nói mình chưa muốn sửa. Chị đã gửi một buổi em khóc, bỏ ngoài bao nhiêu năm em sống sau buổi ấy, rồi để mái dùng buổi khóc thay lời em. Có sửa đúng thêm một nếp áo cũng không làm ý em trong thư đổi đi. Ôn thở dài, nói còn những người giữ gian cho đỡ sợ ngoài kia. Chị nhận họ có quyền chọn nghe, chuyện Mai không được dùng thay sự lựa chọn của họ.
Tới trưa Phương đứng dậy ra ăn. Người giữ hỏi có muốn giữ đèn đợi mình về không. Chị đáp không, xin ngừng phần gian này trong lúc đi, rồi tự thấy lòng thắt vì sợ lúc trở lại sẽ không còn giọng. Ôn che chén và ngừng đọc tên chị như người đang đợi. Chị đi được ra ngõ, ngồi trên bậc giếng cũ, nước mắt rơi mà không có tiếng Mai làm chỗ tựa. Chị đã không thắng một cuộc kéo bằng lời thật mạnh. Chị chỉ đi qua đúng cửa đã nhận, mang theo nỗi muốn quay vào còn nguyên.
Bên giếng một người bán bánh ngồi ngủ, giật mình tỉnh khi thấy chị khóc, hỏi có bị mất tiền không. Phương lắc đầu, mua một cái, ăn mất gần nửa canh mới hết. Bánh nguội, nhân dính răng, chị vừa nhai vừa phải thở qua mũi. Người bán không biết chuyện em, chỉ nhắc chị đừng ngồi chặn chỗ hứng nước. Chị nhích sang, cười qua nước mắt. Ngoài mái vẫn có những người cần chỗ đặt thùng, không phải ai cũng tới để nhận vai trong buổi chị đang khóc.
Chiều chị trở lại, Ôn vẫn chưa quyết được phần gọi theo người nhà trong những mái khác phải làm sao. Ông đã gửi sao vân tới ba nơi, hai mái nhỏ ở gần, một ở khu phố sâu trong thành. Chị không đòi ông bảo cả ba đã ngừng chỉ vì chén gốc ở đây được che. Chị xin ông chỉ đúng nơi đã gửi, chuyển lời mình rút và lời Mai đã nói, phần ông có thể tới thì tự tới nhận trách nhiệm dùng khi không đủ thuận. Hai nơi gần chị sẽ cùng ghé, nơi trong thành cần theo tuyến thư, chưa biết ngày có đáp.
Ôn hỏi vậy có phải chị đang bắt ông bỏ một món đã trả công giữ nhiều năm. Phương nhìn chén, nói phần công giữ trước đây đã trả không cho ông quyền dùng tiếp khi chủ ý đã rút. Món âm là đồ chị mua, giọng là của Mai cho nghe riêng, chị đã vượt phần được cho. Chị chịu nhận mình làm sai, không vì vậy được nhường lại quyền sai ấy cho một người khác. Ông im, nhìn tiền nhận cũ trên giấy không như nhìn một chiến lợi phẩm, giống người vừa biết phải sống tiếp với một việc mình từng tự gọi là nghề tốt.
Chị không bước tới giằng chén. Ôn đi lấy vải, bọc lại, bảo mai cần tháo cái khuôn vải phía trong, không được kéo ngang đèn nhà bên vì họ vẫn chọn nghe. Phương nhận sẽ trả phần công tháo riêng, cũng giữ tờ ghi trách nhiệm không chuyển lời, không đổi tiền để ông thôi nói mình đã gửi gì. Trước lúc về, chị đứng ở bậc đã ngồi nghe, nói mình thôi nhận đây là chỗ Mai phải quay lại vì chị đợi. Ôn thôi nhắc tên em theo câu chị từng gửi. Ánh gian không tắt cả mái, người bên cạnh vẫn ngồi xem một chiếc tay đang đan rổ.
Đêm ấy chị kể cho Nhiên đủ phần đã làm và phần chưa. Cô nghe, không hỏi sao chị không ở lại tháo ngay cho xong. Sáng mai mỗi người có một đường, túi chị vẫn cần xếp riêng, nắp nồi vẫn cần lau. Phương xin cô cầm hộ túi áo để khâu chỗ rách, nói nếu em biết mình trở lại nhờ như vậy liệu có giận không. Nhiên đáp không biết Mai nghĩ gì, mình thì muốn giữ túi cho chị khâu xong. Chị nhận đúng câu trả lời ấy, không cố lấy nó thành giọng em đã tha.
Ngày sau Nhiên đi. Phương ở lại Giếng Cũ cùng Ôn tháo phần vải có màu thau nhuộm, mang chén gốc về túi mình. Nó là một vật được nhận giữ riêng, không lời nào trong vân được dùng gọi Mai đón khách nữa. Chị chưa biết có muốn nghe trong những đêm sau không, cũng không cần quyết nghe mãi hay phá ngay. Hai người gỡ từng chốt vì sát gian bên còn đèn của người khác. Có chốt gỉ, tay chị dính bụi, Ôn cằn nhằn sao ngày dựng lại ham đóng sâu thế, rồi tự bảo ngày ấy người dựng là mình.
Mái gần đầu tiên nhận dừng sau khi nghe thư. Mái thứ hai muốn chờ người giữ chính về, người đang trông không tự quyết vân đã chuyển hai mùa. Phương nhận đợi ba ngày, không nhận mở thêm trong lúc đợi với lý do biết đâu Mai ghé. Ngày thứ năm từ lúc tới, chị nghe được phần mình ở nơi ấy ngừng, bản sao được che để hỏi lại quyền người cho giọng trước khi dùng. Không có đứa trẻ nào biến mất, không một hồn nào bị chị tước chỗ nằm. Người thuê giường trong sân vẫn càu nhàu về nước giặt đổ lối đi, bình thường đến mức chị phải đứng tránh.
Những ngày còn lại, chị nhận viết giúp vài thư theo lời người gửi đã cho, lấy công giấy và thời gian mình thực dùng. Một bà bảo viết cháu phải về, nói tới đó tự ngừng hỏi có cách viết muốn mời mà không nghe như bắt không. Phương đưa giấy cho bà chọn câu, không tự xóa phần bà đang muốn để làm một bản sạch ý mình. Bà nói mình còn muốn bắt thật, viết hẳn ra lại xấu hổ. Chị ngồi nghe, không dùng lỗi Mai làm chứng để lên trên người đang chật vật với một chữ.
Đêm thứ tám, chị mở chén riêng một lượt, lần này nghe cả tiếng cười ở cuối. Nước mắt vẫn chảy. Chị khép vải, cất trên cao khỏi chỗ dột, thấy mình còn muốn gặp Mai mà không được dựng một Mai đang đứng chờ để lấy cảm giác ấy. Trong thư mới chưa gửi, chị viết thêm đã lấy âm về, đã nói hai mái gần thôi gọi, một nơi trong thành còn cần người nhận. Mai nếu một ngày biết, có thể giận, có thể không viết trả. Chị để khoảng ấy trống, không chép hộ một nụ cười vào cuối thư.
Nhiên về vào chiều ngày thứ mười từ lúc Dư rời, đi mấy chặng thật nên vạt áo còn cứng bùn. Phương đã nấu cơm, nhận nút nồi Dư gửi rồi thử vào chỗ nắp, nhấc lên không nóng tay như trước. Chị hỏi ông có khỏe không, cô nói còn làm việc, còn giận, chọn đi đoạn riêng. Chị gật, không nhờ cô kể hết cuộc xin lỗi để mình rút một câu kết cho quan hệ của họ. Cơm đã được xới, hai người ăn, nghe một mái bên giữ đoạn cười khác mà người ở đó vẫn muốn nghe.
Sau bữa, Phương cho cô xem bản nhận hai nơi đã thôi, phần trong thành chưa trả lời để riêng. Cô hỏi muốn làm gì tiếp. Chị nói muốn trở lại Cửa Nghiêng nhận thư bến, rồi nếu đủ tiền sẽ ở bờ ngoài một thời gian, tìm những người đang bị lời người nhà giữ để hỏi họ muốn gì. Không phải vì làm cho nhiều người sẽ bù được Mai; chị chỉ không muốn về bàn cũ để quên cách một câu bị bỏ trống đã đi xa thế nào. Nhiên nhận cùng đi quãng về, chưa đặt sẵn mọi ngày sau cho cả hai.
Trước ngủ, Phương đem chén bọc vào túi riêng, không lẫn hòm tám phần ký ức còn ở Cửa Nghiêng. Một tiếng khóc được giữ không phải chính em gái đang cần chị ru ngủ. Mai đã sống xa hơn buổi chị dễ nhớ nhất, đã tự viết chữ ghé, đã chọn đi một quãng chưa ai ở đây biết. Chị tắt đèn thường, nằm nghe tiếng nước ngoài mái. Sự im còn khiến chị đau, song đêm ấy không có ai phải bước về gian cũ để làm chị chịu được nó.
Chương 65: Người không muốn trở lại
Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại