Chương 55: Kiều Phương xuống đò
Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại
Chiếc đò chở Phương tới Cửa Nghiêng đã qua bến một quãng mới quay đầu. Chị đứng bên giỏ hành lý, tay giữ nón, nhìn bà Lữ vẫy dưới mái như sợ nhận nhầm. Người chèo chặng cuối không nghe rõ khi chị nói tên bến lần đầu; tới khi thấy cây nghiêng chị mới dám hỏi lại. Nhiên đang xách nước phía sau nhà, chạy ra với bàn tay còn ướt, không biết nên đỡ túi hay đón người đang bước xuống trước.
Phương có hai túi. Một túi áo nhẹ, một túi làm vai chị trĩu, Đậu lập tức nhận bên nặng rồi kêu vì bên trong toàn bánh. Chị đã mang từ một bến gần, đổi qua mấy lượt thuyền phải canh khỏi ướt, không phải gói bánh Bến Mưa được giữ tươi bằng phép suốt đường xa. Nhiên cầm túi áo, nghe chị thở ra sau bước cuối, chợt thấy người giữ sổ mình quen cũng có thể mệt đến mức đứng yên chỉ vì đã lên được một bậc.
“Tới rồi,” Phương nói.
Chị định thêm một câu về giấy nhờ gửi, nhưng Nhiên đã đặt túi xuống ôm. Lần này hai bàn tay chị rảnh, không còn xấp giấy chen ở bên hông. Chị ôm lại lâu hơn ngày tiễn, áo đi đường mằn mặn, một sợi tóc bám môi Nhiên làm cả hai cùng bật cười khi rời ra. Đậu quay mặt vào giỏ bánh, giả bộ kiểm đủ rồi bị bà Lữ hỏi nếu kiểm thì có trả công người giữ giỏ không. Cậu buông tay, cười ngượng, để Phương tự chọn chỗ đặt món đem tới.
Năm thứ hai từ ngày tháo cầu đã bắt đầu trong lúc chị đi. Trên bến có một người mới xin làm ca chiều, Ngát ghi tên không hỏi phải giữ chỗ ai để người vắng được nhớ. Phương kể chuyện ấy khi rửa mặt, từng câu ngắn giữa tiếng nước. Lưu Bản đã nhận một thợ phụ có công trả rõ, Quý quen mái sau, bà Vân vẫn mắng người chen hàng. Những điều chị nói không phải một lời cam đoan mọi việc sẽ mãi êm. Nó chỉ đủ để chị rời vào ngày đã chọn mà không giấu một khoảng trống cho người khác chịu.
Sáng rời Bến Mưa, chị đã đứng lại ở cột khi nghe Ngát nói sai số ghế trống. Năm ghế thành sáu, chỉ vì một người lên rồi lại xuống lấy túi. Phương quay nửa người, bàn tay đã tìm bút, còn Ngát nhận ra trước, gạch số và gọi người ở đầu hàng đợi một chút. Người ấy bực, bảo sổ mới cũng chẳng khá. Ngát đỏ mặt, nói mình đã đếm sai, giờ còn năm. Bà Vân đứng cạnh không che lời ấy, chỉ gọi đủ năm người rồi mới tháo dây.
Phương đứng trên bậc tới khi Ngát nhìn sang. Cô gái giơ bàn tay dính mực, hỏi chị còn thiếu món gì mà chưa đi. Chị nói định nhắc đếm ghế, Ngát đáp đã đếm lại rồi. Không có lời hứa em sẽ không sai nữa cho chị yên tâm lên đường. Chỉ có một lỗi vừa xảy ra, được nói đúng với người bị ảnh hưởng, và chiếc thuyền đang rời bến với số người thật. Phương đã phải quay lưng trước khi lòng mình muốn chạy tới sửa hết sự bực của khách, mang cả tiếng bực ấy ra khỏi ngày đi.
Trong túi nhỏ có thư Ngát gửi Đậu, một tờ hỏi công việc cho Dư, vài giấy cần chuyển đúng người trên tuyến này. Phương lấy ra để riêng, không bày trước bữa ăn như một cuộc đối việc. Tiền đường của chị nằm trong khăn khác, từ công đã lĩnh, không rút quỹ bến đi tìm chuyện riêng. Bà Lữ hỏi ở mấy đêm, chị đáp trước mắt ba, sau sẽ trả thêm nếu cần. Chị quay sang Nhiên định hỏi ngủ chỗ nào, rồi nhìn hai chỗ trống và tự chọn góc có cửa nhìn được mưa.
Dư không có ở bến hôm ấy, đang nhận đất ở phía chợ. Đậu có một lượt đã hẹn với Cừ, không hủy vì khách quen tới. Còn Nhiên phải đi giao phần áo bà Lữ nhờ phơi bên mái khô. Phương nghe, nhận giữ bánh chờ, không nói mình tới khiến ai cũng bận. Chị ngồi cạnh cửa một mình, tay tự lần mép túi như tìm bút. Nhiên đem áo đi, quay lại còn thấy chị ngồi đó, không được việc nào cứu khỏi giờ đầu tiên không có người mang sổ tới hỏi.
Chiều chị xin xuống thuyền cùng Nhiên một vòng. Không phải sang hẳn bờ khác, chỉ tới cây nghiêng rồi về. Nhiên chọn chiếc nhỏ bà Lữ cho thuê, hỏi chị muốn ngồi trước hay giữa. Phương nhìn khoang, nói giữa, bước xuống quá nhanh khiến thuyền dạt khỏi bậc. Cô giữ mạn, nhắc chị đứng lại để hai chân có chỗ thật rồi mới chuyển tay. Người từng chỉ khách vô số lần lên đò bỗng đỏ mặt vì chính mình vẫn cần nghe nhắc như người đi lần đầu.
Qua khỏi bến, Phương hỏi chỗ nước phía trên sao trông gần hơn khi đứng ở cửa. Nhiên giảm mái, để chị nhìn quãng nhà in xuống thành một góc cong. Cô có thể kể hết các lần mình đã lạc từ lúc rời Bến Mưa, nhưng Phương đang chỉ vào một con chim đậu trên cọc. Chị hỏi nó có thật không, vì trên đường qua mái sáng đã thấy một con cứ rỉa đúng một chỗ trên cánh. Nhiên đợi nó nhảy sang cọc bên, nói con này vừa làm điều mình chưa đoán trước. Phương cười, không đòi cô chứng minh thêm.
Đến cây nghiêng, họ dừng dưới bóng lá. Nhiên buộc tạm dây ở cọc quen, để mái ngang ghế. Phương lấy ra một quả bánh bị méo, bẻ phần nhân lộ cho cô. Hai người ăn, không nhìn vào nhau mọi lúc. Chị nói trước khi đi đã dọn ngăn bàn, thấy con dao nhỏ Nhiên để quên từ trước mùa mưa, bỏ vào túi đem tới rồi lại để trong nhà bà Lữ. Cô bảo dao ấy cứ tưởng đã mất, chị đáp có những thứ ở dưới đống giấy không thể trách chúng tự đi đâu.
Một người chèo hàng ngang qua hỏi đường sang bãi khô. Nhiên chỉ quãng mình biết, người ấy hỏi nữa phần xa, cô đáp cần hỏi Cừ ở bến, không tự nối thêm. Phương nghe cách cô nói, nhìn tay mình đang giữ vụn bánh. Ở Bến Mưa chị thường nhận một câu hỏi vì tưởng giữ sổ thì phải có câu trả lời; bây giờ đứng trên nước không thuộc, chị thấy sự trống ấy rõ đến mức lòng bàn tay ngứa. Nhiên không biết chị đang nghĩ điều gì, chỉ nhận ra chị không còn ăn, hỏi có lạnh không.
Phương lắc đầu, nói có chuyện muốn kể nhưng chưa tìm được chỗ bắt đầu. Cô nhìn chị, bảo hôm nay chưa phải kể ngay. Chị nhíu mày, không nhẹ đi vì được hoãn. Câu chuyện đã theo chị qua nhiều chặng, không còn một buổi trực bến nào có thể dùng để cất lại. Chị hỏi nếu mình từng làm một việc giống điều đang trách người khác, tới đây có phải chỉ thêm gánh không. Nhiên kéo mái vào khoang để nó khỏi cọ cọc, nghĩ lâu mới đáp chị cần kể đúng việc ấy, mình chưa thể biết thay.
Phương cúi xuống gỡ chiếc túi trong áo. Bên trong có phong bì đã bạc ở nếp gấp, mặt ngoài tên Mai. Chị không đưa Nhiên đọc, chỉ đặt trên đùi, ngón tay vuốt cạnh được dán lại từ lâu. Mai là em gái chị, đã chết nhiều năm. Có một lần thư em sang được Bến Mưa, do người quen nhận chuyển từng quãng, chị đọc rồi giấu phần không muốn nghe. Nhiên thấy cổ họng chị nhúc nhích, không nối câu bằng những gì mình đoán từ gian của Uyển.
Gió đổi, Phương giật mình giữ phong bì, một vụn bánh rơi xuống nước. Nhiên dời dây, bảo quay về trước lúc xoáy sát cây dâng. Câu chuyện dừng ở tên em, có đường về phải làm trong lúc người kể chưa nói hết. Cô nhận mái, chị cất giấy bằng cả hai tay, rồi hỏi mình giúp gì được. Cô đưa chị cái bát múc nước đáy, chỉ chỗ đặt sau mỗi lần múc. Phương làm chậm, không biến việc múc thành một hình phạt đáng được giao vì chuyện chưa kể.
Họ về gặp Đậu đang rửa mái cạnh Cừ. Cậu kể chuyến mình có người mang một con cua trong rổ, tới bờ mới biết nó bò mất, cả thuyền phải tìm dưới ghế. Phương hỏi có tìm được không, cậu giơ ngón tay bị kẹp. Cừ bảo cậu tự đưa tay quá nhanh, người mang đã dặn lấy que. Tiếng cãi làm chị cười bật, rồi ngừng vì thấy mình vừa kể tên em chết xong. Nhiên đặt bát múc xuống, hỏi cua được đưa về chưa. Đậu kể tiếp, không ai cần giữ cả bến yên để nỗi buồn của chị đứng đúng chỗ.
Dư về lúc cơm đã dọn, ôm hai thỏi đất trắng như mang quà quý. Phương đưa tờ hỏi công, ông đọc rồi chê người đặt bình cứ muốn miệng nhỏ mà tay rửa phải vào được, hỏi chị có biết phép làm tay mỏng không. Chị nói giữ sổ không dạy món ấy, ông cất giấy hẹn sáng mới trả. Bữa ăn có đủ chỗ nhưng thiếu một đôi đũa, Đậu nhường rồi bị bà Lữ bảo vào bếp lấy chứ đừng ngồi nhìn người khác ăn với vẻ hy sinh tội nghiệp. Cậu đi, đem thêm cả thìa, đặt trước mặt người đã mệt vì đường xa.
Phương nhận thìa, tay run nhẹ làm chạm mép bát hai tiếng. Chị đặt xuống dưới mâm như giấu một điều không được phép mang tới. Nhiên kéo đĩa rau lại gần, nói lúc mới tới mình mệt tới mức ăn xong vẫn quên vừa ăn món nào. Phương nhìn bàn tay, đem thìa lên, lần này cầm chắc hơn bằng cả ngón cái. Chị hỏi cô đã ngủ đủ chưa. Cô đáp hôm nay đủ, hôm qua chưa vì có người đợi thư mà cứ ra xem chuyến muộn. Phương bật cười, cúi xuống bát, lần đầu thấy vui vì mình đã khiến một người đợi mà không phải do tờ giấy thiếu dấu cần trả.
Phương ăn chậm, nghe Đậu kể những ngày vắng khách, thấy cậu không xin phép trước khi nhận lượt mai. Khi chị hỏi giờ nghỉ, cậu trả lời được cả giờ mình muốn ra sau gốc cây ngồi. Bến Mưa đã đủ người để chị tới, Cửa Nghiêng cũng không cần chị biến ngay thành người giữ mọi việc. Điều ấy dễ chịu rồi lại trống trải, hai cảm giác cùng còn khi chị gấp áo ngoài mâm. Nhiên không gọi chị đi đếm bình buổi tối, chỉ hỏi muốn nước ấm hay nước thường.
Đêm, Phương nằm chỗ gần cửa, nghe mái cót đôi lần nhỏ giọt. Chị quen tiếng chuông bến, giờ không có chuông vẫn tỉnh đúng một lượt canh. Ngoài sân Nhiên đang treo chiếc khăn chị vừa giặt, chỉ còn thấy vai qua cửa. Phương gọi, cô quay lại hỏi cần gì. Chị nói sáng mai mình muốn kể hết thư Mai, rồi nhờ cùng tìm nơi đã gửi lời gọi. Không nhờ Nhiên đi tìm em để đưa về, cũng chưa biết lời đã giữ có thể thôi ở đâu.
Nhiên bước vào kéo ghế thấp tới cửa, ngồi một lát thay vì lập tức nhận lời hứa sẽ giải được. Phương đưa cho cô nửa quả bánh cuối, cất phong bì dưới gối. Ngoài nước có tiếng Cừ gọi người nhận hàng muộn, một giọng nói thuộc chuyến của anh, không cần cả hai cùng đứng dậy. Chị ăn hết, nhận ra mình đã xuống đò, đã tới một nơi vẫn cho mình một buổi sáng dù chưa sửa xong điều từng làm. Chuyện mai còn nặng, mà đêm nay chị được ngủ trên tấm chiếu đã trả bằng tiền đường riêng.
Chương 56: Những chữ chị đã không viết
Quyển IV — Những Người Không Muốn Trở Lại