Chương 19: Xóm bên kia buổi chiều
Quyển II — Bờ Của Những Tên Gọi
Ra khỏi Cỏ Lau, mái nhà cuối cùng khuất sau một cây có thân nghiêng ngang nước. Nhiên nhìn lại đến khi thuộc được góc cành gãy, rồi quay về mũi. Tịnh ngồi phía trước Đậu, đầu ngón tay chỉ khoảng nước cần giữ, không đọc tên những mốc cô mới nghe người khác gọi. Chiếc thuyền nhánh nhẹ, mỗi lần một người nhích chân lườn lại nghiêng rõ hơn đò Bến Mưa.
Đậu cột nồi bằng vải Hạnh gửi. Cậu đã xếp hai hòm bình thấp, gạo và áo cao hơn chỗ tạt, vẫn thấy vật nào cũng có thể đi mất nếu mình rời mắt. Nhiên bảo cậu nhìn một việc trước: giữ mái phía sau khỏi kéo mũi về bờ cây. Cậu quay lại đúng lúc đầu mái chạm một cành chìm. Cậu hạ tay theo nước, không giật, nhấc được ra với một vệt vỏ cây dính cạnh gỗ.
Tịnh chỉ ngã nước đầu. Bên trái rộng hơn nhưng hướng gió đẩy ngược, bên phải hẹp với vệt đất đỏ cao. Cô đã đi phải lúc nước cạn, chưa đi mức này. Nhiên đưa thuyền vào khoảng yên, nhìn chân đất, thử đầu sào xuống để biết đáy. Không có một con đường sáng hiện ra khi cô gọi dấu Bến Mưa trong trí. Những dấu ấy còn ở nơi cô đã rời, chỉ cho cô nhớ đã tới đây bằng gì, không quyết thay nhánh trước mặt.
Một thuyền tròn đi qua từ phía trái, người chèo dùng mái ngắn, trong khoang đặt chiếc ghế nằm dài. Ông thấy họ dừng, hỏi có phải muốn về Cỏ Lau không. Tịnh bảo tới Ngã Thưa. Ông chỉ nhánh phải, nói một cây đổ mới nằm ngang sau vệt đỏ, thuyền chất cao sẽ mắc. Nhiên cảm ơn, hỏi ông có vừa qua đó không. Ông đáp có, nâng mái cho họ thấy nhựa gỗ còn dính ở cạnh.
Đậu nhìn chiếc ghế, không hỏi ai chết trên đó. Người chèo thấy, cười bảo ghế của mình, chuyển nhà lần thứ ba mà vẫn muốn giữ chỗ ngồi quen. Ông đi về Cỏ Lau vì muốn gần nơi có nhiều người tới, không phải vì bị đuổi khỏi xóm cũ. Hai chiếc thuyền tránh nhau trong quãng nước vừa đủ. Nhiên nhận ra mình từng nghĩ sang bờ rồi mọi người chỉ có một hướng đi tiếp, trong khi có người đơn giản đang tìm một chỗ kê ghế dễ nói chuyện hơn.
Cây đổ thấp hơn họ tưởng. Từ xa, tán lá đã khô hòa vào bờ, tới gần mới thấy thân ngang ép phần nước đi dưới thành một cửa hẹp. Nhiên hạ mũi trước khi chạm, nhờ Tịnh giữ hai hòm bình thấp xuống giữa ghế. Đậu ngồi hẳn xuống đáy, đưa mái nằm dọc, ba người chờ một quãng gió thưa rồi cho thuyền lướt chậm vào.
Giữa thân cây, một cành chìm móc đầu dây nồi. Tiếng sắt kéo ngang gỗ làm cả ba quay. Đậu giữ quai, thuyền nghiêng về tay cậu, một mép nước tràn vào đúng chỗ đặt áo. Nhiên gọi buông nồi một nhịp, giữ thân trước. Cậu buông tay khỏi quai nhưng dây vẫn căng, kéo thuyền đi chéo. Tịnh lấy con dao nhỏ cắt đúng vòng ngoài, nồi rơi vào nước kêu một tiếng đục rồi mắc bên cành.
Đậu muốn với. Nhiên giữ cán mái ngang giữa hai ghế, bảo ngồi yên vì đầu cả nhóm còn dưới thân cây. Cậu nhìn lên, nhận ra trán mình chỉ cách gỗ một khoảng ngắn. Cậu cúi xuống, nhận lại mái sau, cùng cô đẩy lườn khỏi chỗ mắc. Tịnh không chặt cành chìm khi chưa biết phía dưới có gì, giữ đầu dây đã cắt để khỏi quấn chân. Chỉ khi mũi ra hẳn ánh trời họ mới quay nhìn nồi.
Nó vẫn ở đó, không chìm. Quãng nước kéo sau thân xoay chiếc nồi một vòng rồi giữ sát cành. Nhiên đưa thuyền vào bãi bùn thấp, buộc bằng dây mới, ba người kiểm hòm trước. Một lớp vải áo ướt, gạo khô, bình không va vỡ. Đậu ngồi bó gối, nhìn đầu dây cắt trong tay Tịnh như nhìn một lỗi có tên mình. Cô đưa tin vỗ nhẹ lên ghế, bảo nồi còn có thể lấy nếu làm từ bờ, còn lúc nãy đầu người ở dưới gỗ.
Họ men lên chỗ đất chắc. Nhiên dùng sào đẩy chiếc nồi khỏi cành, Tịnh giữ đầu móc, Đậu đứng ở bờ cao chờ khi nó tới đủ gần mới kéo. Phải thử ba lần, lưng áo cả ba đều dính bùn. Lấy được nồi, cậu bật cười không ra tiếng, rồi ngồi xuống ngay vì chân run. Một vật nhỏ đã làm chậm cả buổi, nhưng không ai bị buộc biến chuyện ấy thành giá phải nộp cho đường xa.
Nhiên trải phần áo ướt lên cành, ngồi ăn cơm nắm đã gói ở Cỏ Lau sáng nay. Vị muối mè làm cô nhớ món rau quá mặn trong bữa trước lúc lên đường. Tịnh vừa ăn vừa đếm lại số dây chưa dùng; Đậu tự buộc nồi theo cách không có đầu thừa quét xuống nước. Lần này cậu nhờ cả hai nhìn, kéo thử rồi mới đặt vào khoang. Cô không bảo cậu từ nay sẽ nhớ mãi. Đường còn những vật họ chưa biết có thể mắc vào đâu.
Ngã Thưa hiện ra lúc trời xuống chiều. Những cây ở đó đều nghiêng cùng phía như vừa nghe một người gọi ở xa, nhưng lá vẫn rung theo gió hiện tại. Bậc cập thuyền kê bằng đá bẹt, phía trên có một sân rộng treo những mảnh vải không cùng màu. Nhiên đưa mũi vào, một người phụ nữ từ sân xuống giữ đầu dây trước khi cô xin nhờ.
Người ấy mặc áo xanh có đường vá đỏ lớn, tóc cắt ngang cổ. Bà nói tên Mận, trông chỗ neo và nhận cho người sống mượn bếp. Tịnh đã từng gửi thư tới đây, chưa ở qua đêm, chào bằng tên rồi nói nhóm muốn tìm Lê Nghị. Mận đứng yên một lát, mắt nhìn hai hòm nhỏ trên thuyền. Bà hỏi họ có phải người tới gọi ông ấy về không.
Nhiên nói tới hỏi ông có muốn biết phần đèn Bến Mưa còn giữ. Không có lệnh đem ông đi đâu. Mận nhìn cô, mới nhận đầu dây buộc chắc hơn. Bà bảo Nghị đã rời xóm, người nhận tin không còn ở căn phòng cũ, nhưng nếu muốn hỏi người hàng bên có thể ngồi đợi bà xếp nốt chỗ thuyền. Đậu nhận chuyển đồ lên một góc sân, cô đưa tin hỏi giá bếp và nền ngủ cho ba người.
Nhiên nhìn các mảnh vải, tưởng chúng đánh dấu người từng ở, Mận nói của người đang ở để khỏi lẫn đồ khi phơi. Một tấm xanh nhạt đã cũ gần giống dây Mẹ Sen, vẫn chỉ là tấm áo cần khô. Bà có vẻ nhận ra cô đang nhìn những thứ quá thường bằng mắt tìm dấu phép, bật cười và chỉ thẳng chiếc nồi bùn: thứ ấy cần rửa trước khi vào bếp, bất kể có chuyện gì quý đang giữ trong hòm.
Đậu xách nồi tới nước rửa. Tịnh giữ đồ, Nhiên theo Mận đi qua sân. Những căn phòng không đều, có nhà cửa luôn mở, có cửa treo rèm dày. Một người đang dạy người khác đan quai, cãi nhau vì người học cứ muốn mắt đều như người làm hai mươi năm. Tiếng cười từ mái bên cạnh làm cả hai quay lại mắng người hóng. Nhiên bước qua, thấy ở bờ này cũng có những buổi chiều được dùng vào việc chưa xong, không phải chỉ để kể một đời đã khép.
Mận mở cửa bếp, chỉ chỗ có nước dùng cho người sống, ngăn kia để đất và đồ của thợ gốm, đừng trộn. Bà hỏi có ai phải dậy đưa chuyến sớm không để xếp nền khỏi người đi đêm bước ngang. Nhiên đáp không. Nói xong cô thấy chính mình bất ngờ, như thể ở lại nơi vừa tới mà sáng sau chưa biết ngay phải cầm mái giờ nào là một việc khó nhận.
Phòng Lê Nghị ở cuối dãy, không bị niêm hay bỏ hoang. Một người khác đã thuê, đang vá tấm màn che. Mận gõ, đợi người ấy mở rồi nhờ cho hỏi phần đồ Nghị gửi. Người thuê lấy ra một chiếc móc sắt và cái túi rỗng, bảo món còn lại ông đã gửi về quầy tin, không còn ở đây. Nhiên không vào lục chỗ người khác ngủ. Cô đứng ngoài, hỏi Nghị rời vào ngày nào.
Người ở phòng bên bước ra nghe tên Nghị, hỏi Mận có định giữ cái móc mãi không, xóm đang thiếu đồ treo đèn. Bà bảo cần thì sẽ tìm món khác, ông Nghị chưa gửi lời cho dùng. Người ấy bực, nói ai tới chỗ sáng ấy rồi cũng ở luôn, cứ trông đồ cho người đi thì sân chẳng còn chỗ. Mận đáp sân vẫn có phần cho người mới, căn phòng cũng đã cho thuê, giữ một cái móc không phải khóa cả xóm theo bước người cũ. Hai người nói nhanh như một cuộc cãi đã có từ trước. Nhiên đứng né khỏi cửa, nghe lời “ai cũng ở luôn” đọng lại sau khi người hàng bên trở vào. Mận đặt túi rỗng lên móc, không nhờ cô phán ai đúng. Bà chỉ bảo nếu thật gặp được Nghị thì hỏi ông còn muốn gửi món ấy không, để người ở xóm thôi phải đoán một quyết định từ sự im lặng.
Người thuê nói trước một kỳ nước, người cùng xóm thấy ông mang một bộ chuông nhỏ. Ông bảo mình đã nghe được người em thất lạc, muốn tới một nơi có thể gặp. Nói gặp nhưng chẳng có ai từ phía ấy tới đưa ông đi; ông đã tự sắp đồ, trả nền, nhờ giữ móc nếu có ngày quay lại. Mận nghe, thở dài, nói Nghị vốn ít kể chuyện riêng, ai cũng nghĩ ông đã có tin chắc.
Nhiên nhìn chiếc móc. Một đầu mòn bóng, có thể từng giữ túi chuông. Cô nhớ âm ba nhịp lọt qua bình thứ sáu, giữ ý nghĩ đó ở phần chưa biết. Họ có tên một người chơi chuông, không vì thế cả tiếng trong kho đã thuộc về ông. Cô đọc phần mô tả được phép ở dòng Nghị cho Mận nghe: người đàn ông sang bến nhiều năm trước, mang bộ gõ trong túi dài. Bà gật nhận ra, nhưng không biết ông từng cho ký ức gì.
— Nếu các người biết ông không gặp được ai thì báo — bà nói. — Ông còn một khoản gửi tôi trông đồ. Tôi không muốn cứ giữ rồi có người bảo ông đã đi hẳn thì chia thôi.
Nhiên hỏi nơi ông hướng tới. Mận đáp một thành không tối, khách mới tới xóm thỉnh thoảng cũng nghe nói. Bà chưa đi nên chỉ biết tên người ta gọi. Tịnh nhìn khoảng giữa hai mái nơi trời chiều vẫn đang nhạt, hỏi có ai từ đó về Ngã Thưa chưa. Người thuê nói có một thợ gốm, mai sẽ tới sân nhận phần nền phơi. Nhiên và cô đưa tin nhìn nhau, lần này biết mình đang chờ một người đã có việc cụ thể chứ không chờ thành phố trong lời đồn tự giải thích.
Về sân, Đậu đã rửa nồi xong, đang ngồi nghe hai người đan quai cãi tiếp. Cậu thử cầm một đoạn sợi, được bảo đừng kéo căng trước khi biết nút. Nhiên không gọi ngay để kể toàn bộ tin. Cô đặt hai hòm vào chỗ kê cao, ngồi cạnh Tịnh chờ nước sôi, để buổi chiều của xóm có chỗ cho họ mà không phải biến hết thành đường tới Lê Nghị.
Tối xuống thật. Lá cây nghiêng thành những nét đen ngoài sân, có người thắp đèn thường dưới mái để làm nốt đoạn quai. Nhiên mang bát cơm ra ghế, nghe một tiếng chuông từ thuyền xa rồi im. Cô quay nhìn, thấy người trông bến đang báo cho chiếc chở hàng tránh cọc. Tiếng ấy có người gõ, có việc cần làm, không gọi ai quay về một tuổi đã mất. Cô ngồi lại, ghi tên Ngã Thưa cùng ngày đã tới vào phần đường mới, rồi gấp sổ trước khi cơm nguội.
Chương 20: Chiếc bình để yên
Quyển II — Bờ Của Những Tên Gọi