Chương 73: Đường lên đèo có người xuống
Quyển V — Lò chung trên đèo
Xe lên Ngọc Khẩu phải dừng giữa trưa vì một đoàn đang xuống dốc. Người đánh xe Tầm đi cùng kéo sang nền tránh, đặt thanh chặn bánh rồi mới đưa tay cho người trên xe bước xuống. Phía trước chưa thấy đỉnh đèo, chỉ có những mái thùng vá bằng vải cũ và một đứa bé ngồi ôm cái nắp lò nguội lớn gần bằng mình.
A Chi rút chân vào, chừa chỗ mép xe cho người dẫn con đi qua. Hơi lạnh khiến cô gái cứ muốn châm hạt hỏa mới để hong ngón, nhưng vật đang ôm của người đi xuống chưa biết có nhận lực không. Cô nhét tay vào tay áo, nhìn người đàn bà đi cạnh chiếc xe thấp hỏi người trạm có còn nơi ngủ dưới thành.
Người đàn bà tên Mến, thợ chỉnh khuôn ở một lò nhỏ đã ngừng ba tuần. Chồng chị, Lưu Thạch, giữ mái và phần dẫn nguội, đang kéo xe cùng người thuê theo quãng. Họ không mang cả đỉnh lò xuống, chỉ bộ khuôn riêng, áo chăn và một tấm ván con gái nhất định đem vì đã vạch chiều cao mình lên đó mỗi năm.
Thạch muốn qua Ngọc Khẩu tìm việc sửa mái. Mến nói trước sẽ tới thăm chị ruột, cần biết nơi mới có chỗ gửi con rồi mới nhận ca. Hai người nói khác nhau giữa đường, chưa chọn được một việc chung, cũng không có ai tới bảo họ cứ vào lò lớn thì hết lo.
Tầm giúp giữ góc tấm ván lúc xe xoay, bàn tay có sẹo không nhận đầu nặng. Đứa bé nhìn cô, chỉ những vạch thấp đã bị một túi vải che, bảo vạch dưới cùng không phải của mình mà của một con chó cứ đứng sát chân mỗi khi đo.
— Nó cũng muốn biết bao giờ cao đủ ăn trên bàn, — Mến nói.
A Chi bật cười. Đứa bé ôm nắp lò nghiêm nghị gật, làm cô phải cắn môi mới thôi cười thêm. Khi xe đã qua chỗ tránh, nó còn quay đầu báo con chó không đi cùng, bà ngoại giữ vì nó ghét xe tới mức chưa lên đã kêu.
Ở Cửa Tùng, người xuống đông hơn chỗ ngủ. Mái trạm kéo thêm một dải vải nhưng gió cứ luồn dưới, người giữ trạm đặt những giường thấp vào phía trong cho trẻ và người cần nằm. Những người khác nhận chỗ theo lượt tới, không phải ai có tiền thuê buồng riêng cũng còn buồng để chọn.
Tầm tìm thấy Hà ở sân sau, đang cùng hai người làm một vách chắn bằng những tấm gỗ rời. Anh đến trước bốn ngày, lớp học chưa bắt đầu đủ vì ba thợ hẹn tới còn ở phía kia đường băng. Trong nhóm theo anh có người xin về sau khi thấy tiền trọ, không đủ vốn giữ mình ở đây tới lúc được nhận công.
— Tôi đã đưa tiền chuyến đã đi, — Hà nói, tay vẫn giữ góc vách cho người khác chốt. — Phần học chưa làm thì trả lại. Người ta về được, nhưng chưa có việc đợi dưới kia.
Tầm đặt gùi trong chỗ trạm nhận, sang giữ ván theo tiếng người đang lắp. Cô không cần bật hỏa cho một tấm gỗ có thể nâng bằng đúng số tay. Gió giật làm góc bạt quất xuống đầu Hà, A Chi bước lên buộc lại, hỏi dây nào người trạm cho dùng chứ không tháo đại dây chằng chiếc xe bên cạnh.
Một người đàn bà thấp, tóc búi sát gáy, mang các chốt tới. Bà tự giới thiệu Tào Uyên, trông nhà nghỉ của thợ tại Bấc Nâu, được thuê thêm việc nhận người ở trạm trong mấy ngày đường nghẽn. Bà biết giường nào đã hết chăn, nhà nào đang cần phòng gần lối xuống, đọc một lượt là chỉ đúng nơi có thể kê thêm vách.
Uyên đưa Tầm xem một góc vừa trống, nói nhóm của cô có chỗ đã đặt và trả trước, không phải chen vào phần vừa kéo ra cho người mới xuống. A Chi hỏi nếu mình chỉ dùng một trong hai đêm đã giữ thì đêm còn có chuyển được không. Bà nhận được khi người trạm có tên người mới, khoản chênh cần theo giá thật chứ không lấy chỗ người đang nhận để đổi thành một món cho đẹp lòng.
Ở góc sân, Mến thử đặt bộ khuôn lên chiếc giá trạm cho thuê, rồi lại hạ xuống khi thấy cạnh dưới chạm phần giữ sáng của người khác. Chị gọi người quản tới đổi chỗ, tự trả khoản chuyển dù người xe đã giục. Tầm nhìn một người thợ vừa nói cần tiền vẫn giữ vật mình khỏi làm hại công người khác, đi nhặt giúp hai miếng kê đã trượt ra đường. Bộ khuôn cuối cùng đứng yên trên một giá thấp, Mến phủ vải, mới quay về tìm con.
Tới lúc vách xong, nắng đã tụt khỏi sân. Tầm mở tay, một mảnh dằm nhỏ dính ở mép găng chứ chưa xuyên da. Cô nhặt bỏ, nghe phía mái trước tiếng Mến nhận được một chỗ cho ba người, thở ra nhẹ vì họ chưa phải kéo chiếc xe kia đi tìm qua một đêm nữa.
Bấc Nâu nằm cao hơn trạm một quãng đường đã có đội đèo giữ. Tầm chưa lên ngay buổi đầu, người trạm nói gió chiều đang cứng ở khúc ngoặt, đi sáng với người dẫn sẽ đỡ phải gọi xe về. Cô nhận lịch, đem bộ thử tới một gian lò nguội Cửa Tùng theo lời mời của Uyên.
Trong góc có những túi vật dẫn nâu đỏ, trông như mẩu rễ cây bị bẻ ngắn nhưng bề mặt khi nghiêng lại hiện từng ô rỗng. Người coi vật nói đó là Tàng Phong, khoáng từ khe gió phía bắc, không phải rễ để đun hay một loại bột có thể thay trong bếp. Tầm đặt một hạt vào ngăn thử có nguồn riêng, nhìn lực cũ nhận ở khe mở về phía khác với ánh đèn.
Một người thợ đứng sau hỏi cô định làm nó phục lại bằng hỏa nào. Tầm quay, gặp người đàn bà tay áo vá ở khuỷu, hai mắt xếch rất nhẹ, ngón tay có dấu cầm kẹp lâu. Chị nói tên Hồ Dư, đang giữ lò ở Bấc Nâu, từng làm ba mùa với loại vật ấy.
— Tôi mới xem một hạt, chưa nhận phục được cả túi.
— Vậy tốt. Hai người trước tôi gặp bắt đầu bằng bảo cứ nạp đầy, rồi hỏi tại sao thùng dưới không chịu giống thùng trên.
Dư không đứng lại nghe một lời giới thiệu dài. Chị lấy ba hạt từ ba túi có dấu khác, đặt trong ba ngăn tách, bảo cô nhìn sau khi nền gió đi hết một lượt. Lực giữ không chỉ theo mức đã nạp, có hạt vốn dành cho hướng đèo bên kia. Tầm nhìn thêm một quãng, nhận đầu mình đã muốn ghép chúng thành thứ gần với phiến biển quen.
Khi Dư cất vật, cô hỏi có thể mua một phần mẫu theo đúng ba chỗ đó không. Chị đưa tới người giữ kho, không bốc vào tay vì khách được Hạ mời thì mọi nguồn của lò là vật học miễn phí. A Chi đối giá và tên túi, xin giữ cả dấu cũ để khi lên lò không chỉ còn một chữ Tàng Phong chung.
Dư nhìn cách cô gái chờ người kho trả lời, hỏi đã làm kho bao lâu. A Chi đáp bốn năm ở tiệm, chưa đủ một ngày ở đây. Chị cười khẽ, bảo bốn năm biết chừa lại một câu chưa biết có ích hơn bốn năm chỉ học nói mình đã biết rồi.
Tối ấy Mến mời họ ngồi cùng một góc bàn vì đã mua nồi ăn lớn hơn ba người dùng. Chị vừa thấy bảng nhận việc tại trạm, có công chỉnh khuôn theo từng lượt, chưa cần chuyển cả nhà lên lò. Thạch nhận sửa một mái kho ngày mai, hai người sẽ ở thêm ba ngày trước khi quyết xuống thành.
Đứa bé kê tấm ván bên chân bàn, lấy ngón tay chỉ vạch mới nhất cho A Chi xem. Cô gái ngồi thẳng để nó ước chiều cao mình, nhận kết luận người lớn vẫn có thể còn lớn nữa nếu chịu ăn món nó không thích. Bà chủ bếp đi ngang bảo thế các người lớn ở đây chắc sắp cao hơn cả mái.
Tầm cười cùng họ, ăn được nửa bát mới thấy đói từ lúc xe tránh đoàn xuống. Bữa nóng giữ bằng nguồn của trạm, phần công người bếp có trong giá. Bà chủ cứ múc theo những lượt đã gọi; Tầm vừa nhận đủ món thì người sau đã có phần, không ai cần chờ cô thử hỏa mới được ăn.
Thạch hỏi liệu lò chung có nhận cả vợ chồng cùng chỗ. Hà đáp bảng có hai nghề ấy, nhưng chưa nhận hứa họ được cùng ca, phần giường và giờ trông con còn cần hỏi. Người đàn ông im, nhìn sang vợ, Mến nói nếu nhận được công theo lượt dưới này, chị muốn giữ ba ngày đã nói trước.
Tầm nghe tới đó mới hiểu vì sao một câu nguồn đủ chạy lò chưa đủ làm người ta lên. Ba ngày ở trạm đắt, xuống thành cũng đắt, mỗi quãng xe kéo theo một việc chưa biết của đứa bé. Cô không rút bản hợp đồng khảo sát của mình ra, hỏi Uyên sáng mai có thể xem nhà nghỉ trước khi vào lò không.
Bà bảo có, người chủ đã đặt giờ lò, phần giường bà nhận dẫn vì chính bà quản. Dư từ bàn bên quay lại, nói muốn xem thì tới trước khi ca sớm dậy, còn ban ngày giường trống dễ tưởng mọi người ai cũng ngủ được như nhau.
A Chi ghi giờ rồi cất sổ. Mến kể tấm ván từng dùng làm cửa kho trước khi thành thước đo, Thạch cãi vì chính anh đã giữ nó khỏi bị đốt vào mùa thiếu củi. Con bé nói chó bà ngoại mới là người giữ, nó nằm đè suốt ba buổi, cuộc tranh cãi lập tức có một người thắng không ở trong phòng.
Đêm Cửa Tùng lạnh dần, Tầm nghe tiếng xe dưới mái trước còn tới. Cô không bật lò thử, đặt ba túi mẫu tách chỗ khỏi đèn giữ ấm, nhìn từng dấu nguồn vừa được Dư chỉ. Bàn tay trái sau chuyến xe và buổi dựng vách còn đủ cầm bát, chưa cần chứng rằng mình tới đèo là phải bắt đầu bằng một mẻ.
A Chi kiểm khoản trọ, đem đêm chỗ không dùng báo người nhận để sáng chuyển được. Cô gái ngồi xuống mép giường, tháo giày rồi thở một hơi rất dài, thú nhận lúc thấy người ta xuống mình đã nghĩ lên lò chung sẽ là cách dễ nhất. Tới bữa mới nhớ có người còn phải biết con ngủ đâu trước.
Tầm kể trước kia mình chỉ hỏi một người mua đan dùng nó cho việc gì, tưởng câu ấy rộng lắm. Có chuyến về thấy người ta không mua vì không thuê nổi người giữ đầu nhận, có chuyến biết họ chẳng đủ chỗ đặt cái hộp mình đã làm đẹp.
— Chị có thấy mình hỏi chậm không?
— Có. Mai vẫn phải hỏi, nhưng đừng bắt họ kể lại cả đời chỉ vì chị hôm nay mới tới.
A Chi gật, kéo chăn tới chân. Ngoài vách tiếng Uyên nhắc xe mới dừng đúng nơi có chặn, rồi một tiếng trẻ khóc ngắn và tiếng người mẹ dỗ con từ góc đối diện. Tầm nghe nhiều người đang đi qua một trạm không phải nhà ai, nghĩ tới chiếc đèn cuối ngõ đã có người giữ cho ngày mai.
Cô cất tiền mẫu và bữa ăn đúng túi, không lẫn với khoản công khảo sát nhận trước. Buổi sáng sẽ có mái lò lớn, những người có thể tranh thẳng với cô về hỏa và một kho dự trữ thật có ích. Còn đêm nay, đường lên đèo ở ngay ngoài cửa mang cả người xuống, mỗi chiếc xe cần đủ chỗ quay trước khi ai nói tới sản lượng.
Tầm khép mắt lúc mái trạm thôi rung mạnh. Ở giường bên, A Chi đã ngủ, bàn tay mới có hạt hỏa nằm ngoài chăn một chút rồi tự rụt vào trong. Cô cũng kéo chăn, để ba túi Tàng Phong im ở bàn nguội, tới lượt gió khác mới mở.
Chương 74: Mái lò chung
Quyển V — Lò chung trên đèo