Chương 36: Tiền lỗ đặt giữa bàn
Quyển II — Đường đan ra khỏi thành
Năm mới đến khi Diệp Tầm còn ở trạm đường về. Người giữ bến treo những thẻ gỗ sơn đỏ lên dây, ai đi qua được chọn một chữ, cuối lượt tháo xuống để mùa sau viết lại. A Chi chọn chữ về, rồi ngại quá đổi thành chữ học. Người giữ cười, bảo có thể mang cả hai nếu trả đúng giá gỗ.
Tầm chọn không chữ, một tấm còn trống. Cô chưa muốn đặt lên đường mới một câu chắc sẽ làm được trước khi tới. Mạc, nhận đoàn theo lịch gửi qua trạm, nhìn tấm trống rồi bảo cô trả tiền mua cả việc tự nghĩ. Cô cười, đáp ít nhất nó nhẹ hơn mẫu cả vườn.
Bên sân có trò ném vòng qua một dải gió thấp. Người trạm buộc những mảnh vải làm đích, không có món thưởng lớn, chỉ ai đưa vòng qua đúng lối sẽ được chọn người khác hát một câu. A Chi kéo Tầm tới xem, nói thử một lần trước khi suốt năm lại chỉ đứng cạnh lò.
Tầm nhận vòng, nhìn vệt gió như nhìn hỏa, ném theo chỗ tưởng nó sẽ trả. Chiếc vòng quay ngang, rơi trước cả đích, khiến Mạc cười gập. Anh thử, vòng đi xa hơn nhưng mắc dây, tới lượt A Chi người đứng đếm nhắc không được bù một đốm hỏa nào dù cô chưa làm nổi.
Cô gái đưa vòng thấp, qua được mép đầu rồi rơi, tiếc đến mức giơ tay muốn kéo từ xa. Tầm nắm tay áo lành của cô vừa đủ nhắc không bước vào lối người kế, cả hai bật cười. Cuối cùng người phu Ngạn qua được, bắt Mạc hát nốt thứ ba đã hứa từ mùa cũ.
Anh hát được, lời không giống bản vườn A Chi mang. Hai bên cãi trong tiếng cười, người trạm bảo quê nào cũng giữ một đoạn khác, đừng kéo cả bài về cùng một trạm rồi gọi phần còn lại sai. Tầm nghe, để câu ấy ở trò chơi, chưa đem nó làm đạo lý đan.
Ngạn đưa lượt tiếp cho cô. Lần này cô hỏi người chơi quen đứng chỗ nào, ném gần hơn, vòng chạm mép đích rồi rơi bên kia. Không trọn đẹp, người đếm vẫn nhận vì đã qua đường thật. Cô được chọn người hát, quay sang A Chi.
Cô gái ngạc nhiên rồi cất một câu hát của mẹ, không phải bài trạm, giọng hơi run đầu và sáng hơn ở cuối. Bà Bích không có mặt, Tầm nghe bằng một phần nhớ gian bếp thấp và áo được nới vai. Người bến vỗ tay đúng lúc câu hết, không hỏi cô làm nghề gì hay từng qua cầu nào.
Tầm đứng dưới dây đỏ, nhận mình đang vui giữa một chuyến có tiền lỗ và tay còn sẹo. Không cần đợi mọi hồ sơ khép, mọi người bình phục và mọi câu hỏi đủ mới được giữ một lượt vòng đi qua gió. Cô cất tấm thẻ trống, trở lại bữa chờ thuyền cùng những người sẽ tách về những nơi khác.
Họ đợi đủ bốn đêm gió mới mở lượt thuyền về Vân Khê. Trong những đêm ấy, ăn món bến, nghe bài trạm từ đầu tới cuối, gửi lời chúc tới người còn ở lại. Không ai tập hát tới mức quên thời gian ngủ, Mạc cuối cùng nhớ nốt thứ ba, vẫn tranh với bản A Chi chép ở Hãm Sương vì lời khác.
Ngạn không theo về thành. Anh có nhà ở sườn thấp và lớp giữ đường đang mở, nhận đủ công, cầm một bản chứng phần việc đã làm khi cần giới thiệu. Tầm không đề nghị anh thành người tiệm vì đã quen; cô hỏi có được giữ địa chỉ cho chuyến sau, anh đồng ý rồi tự hỏi giá công lúc ấy sẽ tính lại không.
— Tính lại, — cô nói. — Theo việc thật lúc ấy.
Anh cười, khoác gùi đi. Tầm nhìn anh bước không còn là một bóng trẻ sau giá. Trong sổ có tên, trong nhớ có người đánh cờ thắng mình, và ngoài phần ấy còn cả những ngày cô sẽ không biết anh đang làm gì.
Qua năm, Tầm ba mươi ba, vẫn Dẫn Hỏa. Chặng núi không đẩy cô qua một bậc chỉ vì mang nhiều giấy về. Vai phải đã hết đau trong việc thường, việc nâng cao còn phải xem sức và tiếp tục hồi; những sẹo tay vẫn kéo lúc mỏi. Cô bước lên thuyền, tự cầm túi nhẹ, nhờ người nhận phần nặng đúng công đã trả.
Vân Khê hiện dưới một buổi nắng khác lúc họ đi. Đầu ngõ có quán mới bán mực và dây bọc, một tấm cửa nhà bên đổi màu, người bán bánh cũ dời gánh sang đầu phố rộng hơn. Tầm tìm tấm biển nâu trước khi nhìn mái mình, thấy chữ Cuối Ngõ vẫn lệch theo mắt gỗ.
Đèn đầu ngõ chưa thắp vì chưa tới tối. Bảng cửa hôm ấy ghi có Hà nhận ca lò, Tất làm tại xưởng khác, Lục tiếp sửa, giờ chiều có Đường Túc cùng kiểm. Không có chữ chờ chủ về trên cùng.
Hà ra mở lúc A Chi gõ. Anh cao giọng chào rồi lùi để hai gùi vào được, không đứng chắn cửa hỏi hết chuyến. Lục từ sân mang chiếc chốt đang dạy làm, nhìn vai Tầm trước rồi nhìn mặt, hỏi có đem bánh kê ghế thật về không.
A Chi giơ túi bánh mềm đã tính riêng, bảo đã giữ đúng phần ăn ngay, muốn kê phải tự trả tiền. Ông cười, gọi thợ trẻ tạm dừng để nhận khách, nhắc chưa xong không được cất cùng chốt đạt. Câu không nói với Tầm, tiệm vẫn có nghề mình phải làm giữa bữa mừng người về.
Bà Bích tới sau khi nhận tin ở bến, mang một nồi thức ăn. A Chi đi ra ôm mẹ, lần này không vội như trước chuyến. Tầm đứng bên, nghe bà hỏi vai hết đau chưa, cô gái đáp còn kéo lúc giơ lâu nhưng đã được xem, không phải cố kể bình thường cho bữa vui.
Mẹ con đi vào gian trong, có những câu Tầm không nghe cũng không cần. Cô đặt gùi ở bàn kiểm, lấy chìa Hà trả sau khi xác nhận đã hết ca bàn giao. Anh hỏi cô muốn xem sổ ngay hay ăn trước.
Tầm nhìn lò đang làm đúng nhịp người giữ, tự thấy mình định hỏi tại sao dụng cụ đổi vị trí. Cô nhịn được câu đầu, xin ăn rồi cùng đọc, để người ở nhà có phần kể vì sao. Đi xa mà về chỉ tìm mọi thứ lệch khỏi tay mình thì chuyến học giao việc đã mất một phần đường.
Tiền lỗ được đặt giữa bàn vào buổi tối sau khi khách cuối nhận đồ. A Chi xếp phiếu theo từng phần, Hà mở sổ ở nhà, Lục đem bảng sửa dụng cụ và tiền công đã nhận. Mẫn Cơ tới đúng giờ đọc phần cùng kiểm, nhận công buổi đối chiếu, không được gọi ngồi miễn vì tiệm muốn bạn bè chứng mình làm đúng.
Chuyến thu được công thử và lượng nhỏ Hạ nhận, chi đường, trạm, vật liệu mất, hoàn đan và công người đi lấy. Tiền bán hộp kính nằm riêng trong vốn Tầm thêm, không gọi doanh thu mẻ. Phần công A Chi nhận, phần học riêng, tiền quà cho mẹ không trộn vào lò.
Khi tất cả đọc xong, số lỗ còn nguyên. Nó thấp hơn nỗi sợ trong một vài đêm, cao hơn phần tiệm muốn cất mua đỉnh mới. Không ai phải chịu chưa trả công để con số bớt đỏ. Tiền ca ở Vân Khê đã đủ đúng hẹn, khoản thuê tới có nguồn riêng, phần Tầm tự thêm còn phải kiếm lại.
Hà chỉ một sửa đổi: lúc cô vắng, có khách trả phiến vì cách nhận khác, anh cùng người kiểm giải trong phạm vi, trả một khoản. Tầm đọc, muốn hỏi sao không chờ mình. Anh đưa quyền đã bàn giao cùng bản xử lý, không giận nhưng giữ tờ ở đó.
Cô đọc hết, thấy anh đã làm đúng. Cô ký nhận biết việc, không ký lại thay anh chịu để mọi giao dịch cuối vẫn phải có tên chủ. A Chi nhìn, cười nhỏ rồi trở lại số.
Lục có phần công dạy thợ tăng, đồ sửa nguội bớt trễ, tuổi ông cũng bắt đầu không muốn nhận những ngày đứng quá lâu. Tầm đề nghị giảm lịch nặng, ông hỏi cô đã đủ tiền trả người trẻ chưa. Họ tính ngay, chưa quyết hết trong bữa đầu nhưng không dùng câu ông phải nghỉ làm lý do để việc mất mà công không bù.
Mẫn Cơ đọc báo cáo vùng núi, nhận bản có chữ Trì Nhu và Quân. Chị nói việc tách nguồn/đường có ích cho nghề, không làm khoản lỗ trở thành bằng khen để tiệm khỏi cần sống. Tầm gật, nhìn bảng: họ phải nhận những việc làm được, đặt giá đủ, vẫn có ngày vắng cho lớp học.
Hôm sau Tống Khiêm tới bến cùng Tầm trả phần hộp vận đã thuê từ đầu. Ông nghe chuyến, không trêu người từng đòi lô khác trả tiền giờ tự đi tìm hộp mình. Ông hỏi cô đã trả đủ người cùng làm chưa.
— Rồi, — cô đáp. — Còn phải kiếm lại tiền đồ riêng đã bán.
Khiêm cười, nói vậy ít nhất có số để nhìn. Hai người của đội ông tiếp tục việc phù hợp sức, chưa được dòng lực trở lại như trước ở tất cả việc. Hồ sơ công nghỉ còn phần chờ, ông vẫn giữ hộp đỏ. Chuyện không tự khép chỉ vì Tầm đã thêm một chuyến dài.
Ở quầy nhận vận, Tầm giao các bọc mòn còn, ghi cái mất ở cầu đã xử lý theo hợp đồng, không mang tiền riêng trả hai lần vì thấy ngại. Người nhận kiểm rồi trả cọc còn, cô cất vào khoản vốn tiệm, không mua ngay thứ để tự thưởng cho kết thúc.
Trên đường về họ ghé quán chị Hảo. Chị đã mở sạp mới cùng em gái theo vốn nhỏ hơn, vừa tính được mùa, chưa giàu vì từng được hoàn. Chị hỏi bánh Sơn Dạ có thật cứng như Lục kể, Tầm bảo ông đã lấy một phần thử sai mục đích, không dùng làm đánh giá quê người ta.
Chị cười, cho thêm nước canh vì quán hôm nay nấu dư, nói rõ không phải bữa nợ. Tầm ăn hết, trả đủ phần gọi, mang cảm giác món quen vào một thành không đứng chờ mình. Chuyến này cô trở về bằng lối mình chọn, không có ai khiêng một tấm biển danh sư.
Chiều, hộp nguồn được đặt vào kệ mới: Hãm Sương, Đá Lạnh, Triền Kén, phần bậc và trạng thái đủ ở dưới. Chỗ nhánh hỏng, vân đường, mẫu còn chưa kết luận không bị giấu sau các phần đạt. Mẫu mới không thể giữ mãi, lịch tái kiểm và dừng dùng được ghi, không biến kệ thành bảo tàng những thứ đã hết giá trị nghề.
A Chi đưa hai tấm thẻ năm mới. Tấm học treo bên sách chép, tấm về đưa mẹ. Tầm vẫn giữ thẻ trống, lấy bút định viết một chữ rồi thôi, đặt vào ngăn giấy riêng. Cô có thể có vật chưa cần dùng ngay để chứng chuyến đã mang ý nghĩa nào.
Thư Trì Nhu tới theo chuyến khác, ngắn, báo vườn nhận phần tiền cũ được phân và công đêm đã thanh toán. Thử dừng mở mỏ còn đang xem qua lượt sương, chưa đủ nói đất đã khỏi. Chị hẹn gửi tiếp kết quả và một đợt cây không thu, không thúc tiệm mua trước.
Tầm viết trả: tiệm đã về, mẻ thử chặng cao/thấp giữ đúng hai phạm vi, người cùng kiểm có tên; cô nhận hỏi lại khi nguồn đổi, chưa nhận lượng mùa sau. Cô chúc Uông hồi chân đủ rồi mới đứng giàn, không gửi đan như một lời có thể làm thế nhanh hơn.
Tối, Hà tới lớp, A Chi học cảm hỏa một quãng ngắn trong ca đã tính, Lục về sớm. Tầm giữ lò cùng Tất và người kiểm nhận, ngọn hỏa thấp, tay đổi khi mỏi. Cô chưa Ngưng Đan, đã bớt một số điều phải giấu vì muốn trông như sắp tới.
Khi mẻ nhỏ cuối nguội, họ nhận đủ phần công. A Chi gọi ăn, Tầm kiểm then rồi nhìn đầu ngõ. Đèn sáng đúng giờ người ở nhà đã giữ suốt những tháng qua. Tiệm có tiền lỗ giữa sổ, tên người nguồn trên kệ và một con đường không còn được gọi chung bằng núi. Nó mở lại sáng mai bằng những việc đủ sức làm, trong khi ở Sơn Dạ một vườn còn có quyền nói chưa.
Chương 37: Người gửi một cành khô
Quyển III — Vườn không ký tên