Chương 20: Một chỗ ngủ không có lò
Mục lục cuốn sách98 phần
Phần 20 / 98

Chương 20: Một chỗ ngủ không có lò

Khoảng 12 phút đọc

Quyển II — Đường đan ra khỏi thành

Bà chủ kéo chiếc ghế ra khỏi vách, để lộ một đường sáng chạy dưới lớp đá. Nó không nhấp nháy như linh hỏa, chỉ đậm hơn ở những chỗ có bóng người đặt gần. Bà bảo trạm Vách Sáng xây trên tầng giữ lạnh, thứ lực đi qua đó gặp hỏa khách sẽ bật sang khe khác. Có lần người trong phòng ấm lên, kho bên cạnh đóng sương suốt ba ngày.

Diệp Tầm nhìn khoảng vừa được chỉ, lùi hộp khỏi tường. Cô hỏi điều kiện ấy đã đo hay chỉ nghe truyền. Bà chủ đưa sổ những lần sửa và người trạm có thể kể, không giận vì khách chưa tin ngay. Quân đọc phần chi, im sau dòng tiền bù hàng của ba nhà.

— Chỗ có hỏa nằm đâu? — Tầm hỏi.

— Bếp chung dưới dốc. Khách ăn ở đây thì người bếp chuyển lên. Muốn luyện, mai đi sân Mắt Cá, không phải đêm nay.

Mạc trải bản, đường ấy vòng xa và sáng mai không cùng hướng tới vườn. Lượt kiểm mẫu ở giữa đèo đã dự tính dùng lò trạm; bản thương xã chỉ ghi có bếp, không nói bếp không ở trạm. Quân nhấc giấy lên ánh vách, vẻ mặt cứng.

Bà chủ tên Dụ, không chỉ họ là đan sư thiếu hiểu biết. Bà kể đã gặp đủ khách mang theo thứ làm việc ở nhà, tưởng nơi ngủ cũng phải chứa được. Bà chỉ kho giữ đồ, nơi tránh đường sáng, rồi yêu cầu họ chọn chỗ ngủ trước khi người bếp hết lượt lên.

A Chi chọn phần gần cửa dễ lấy mẫu. Mạc chọn sát ngoài để nghe giá nếu gió đêm đổi. Tầm đặt gùi xuống, cảm giác quai còn đè vai dù đã tháo. Cô muốn dựng một nhánh hỏa nhỏ hong tay, nhìn đường dưới vách rồi để lòng tay rỗng.

Ngoài sân, người bốc nhận đủ phần công hôm trước, người nào ở lại có giá đêm riêng. Quân tính, không gọi giữ hộ miễn vì mai vẫn cùng đường. Bà Dụ mang chăn, nhắc đèn vách sáng đến khuya rồi yếu, nếu muốn viết phải mượn đèn lạnh ở gian bên.

Tầm nhìn hộp cần mở đúng chặng, chưa biết có thể lấy điều gì thay cho ngọn hỏa mình quen. Cô xin xem loại đèn ấy trước khi quyết chuyến mai.


Đèn lạnh là một phiến kính bọc khung tre, nhận ánh từ đá giữ rồi trả chậm. Nó không đủ đọc lõi như hỏa, nhưng khiến phần ngoài hiện vết mà lửa mạnh thường xóa. Người giữ đèn mang ra, chỉ số lần có thể đổi mặt trước khi phải trả xuống bếp nguồn nạp lại.

A Chi hỏi giá mượn, tiền cọc và phần làm vỡ. Đèn mắc gần bằng một ngăn hộp dự phòng, cô phải mở khoản dành trạm khi chậm. Quân muốn thuê luôn hai để nhanh, Tầm chọn một, đợi xem đủ làm việc gì đã.

Họ mượn bàn trong kho, có mặt gỗ không chạm tường. Bà Dụ cùng người giữ đèn chứng niêm bên ngoài, ghi phần mở. Tầm chỉ lấy mẫu được cấp, phần khác vẫn nguyên. Cô không dùng việc lò thiếu làm lý do phá cả những thứ sau này cần người khác nhìn lại.

Dưới kính, vỏ mẫu mép ngoài lộ một dải vân thu nhỏ sát hướng gió. Phần giữa có ít hơn. Tầm xoay theo dấu, không theo mắt đoán, nhận ra vân ở mặt đã đổi xanh trên lớp giữ ngoài hộp. Cô vẽ, nhờ A Chi giữ đèn cố định.

Quân ghé lên, hỏi đó có phải lõi ngưng lỗi. Tầm chưa đọc lõi, không nói thay. Cô có thể ghi ngoài đổi theo hướng, chưa biết mức nào từ vỏ, mức nào từ vật liệu ban đầu. Ông khoanh tay, chờ cô ghi xong rồi đề nghị lấy phần cùng loại ông mang từ kho để so.

Đó không cùng mẻ, nguồn gần nhưng khác đợt. Tầm nhận xem như đối chiếu khác, không để giống màu thành mẫu chuẩn. Phiến Quân mang ít vân hơn; ông đã để nó sát người suốt đường, không trong hộp ngoài. Chính chỗ giữ lại thêm một khác biệt.

A Chi nhìn hai bản vẽ, hỏi nên ghi thế nào cho khỏi phải đọc chữ chưa biết ở mọi hàng. Tầm chỉ phần đã thấy rõ: vị trí, hướng, vân trước chưa có, sau đã có. Cô gái chia phần điều nhìn và phần cần thử, dòng đầu ngắn, dòng sau dài hơn.

Đèn yếu sau lượt thứ ba. Họ dừng trước khi ánh không đủ mà vẫn tiếp tục vẽ một điều muốn thấy. Người giữ đèn đến nhận, ngạc nhiên vì khách trả đúng lúc thay vì gọi nó hỏng. Tầm thanh toán lượt dùng, giữ phần cọc được trả, tự mang bản mình viết khỏi bàn cho kho nhận lại.


Bữa tối được đưa lên trong hộp giữ nhiệt đã làm sẵn ở bếp dưới. Có canh rễ cây hư màu bạc, bánh nấu mềm và những lát củ giòn không giống bánh Mạc đã mang. A Chi ăn một miếng, hỏi vì sao đồ quê anh ở đây dễ ăn hơn nhiều.

Mạc bảo chính vì ở đây họ không dùng nó đi đường cả tuần. Bà Dụ nghe, đặt thêm nước, nói khách trong thành thường tưởng đồ trạm làm cứng để tính tiền. Lục không có mặt để thử kê ghế, Tầm vẫn bật cười.

Quân ăn nhanh, đi kiểm phần hàng lớn đang chờ ở trạm dưới qua người nhận thư. Khi trở lại, ông nói nếu vòng sân Mắt Cá rồi về, họ có thể bỏ lỡ ngày người vườn nhận gặp. Ông không đòi nhóm hỏa lén nữa, muốn chọn giữa hai việc được làm.

Tầm đặt bát xuống. Cô có thể giữ lịch kiểm bằng đường vòng, thêm công và biết lõi sớm hơn; hoặc giữ mẫu tới vườn, chấp nhận mất một điểm hỏa giữa đường nhưng có quan sát lạnh. Cả hai đều thiếu phần khác với bản dự tính. Không thể viết ngày mai như chẳng có thay đổi.

Mạc muốn giữ hẹn vườn. Nhánh giàn đang sửa, người dẫn không ngồi đợi khi đoàn xuống sân rồi quay lên. A Chi nhìn tiền trạm, nói họ trả được vòng thêm nhưng khoản dự phòng còn ít nếu đường vườn cũng đổi.

Tầm hỏi Quân mẫu có ở trạng thái cần dừng không. Ông nhìn hộp, nói chưa có dấu lực bật hay nóng ngoài; vân đổi vẫn quan trọng nhưng không đang gây nguy người mang. Cô đồng ý giữ niêm tới nơi có chỗ thử, ghi mất điểm kiểm theo dự tính và lý do.

Quân muốn viết không có lò. Tầm đọc lại, thêm trạm có bếp ngoài nhưng không có lò khách theo điều họ đã hiểu lúc chọn đường. Ông nhìn cô, tự thêm phần bản tuyến thương xã chưa mô tả đủ. Không phải chỉ lỗi người đi hỏi sai.

Bà Dụ đi ngang, nghe rồi chỉ tên người phụ trách trạm để gửi bản cập nhật về. Bà không nhận tiền để biến nhà thành lò đan; bà muốn người tới sau khỏi đứng với cả gùi thất vọng bên bếp không được đốt.


Sau bữa, người trạm trẻ tên Nhạn tới xin A Chi chép giúp bảng giá đèn. Chữ cũ nhòe vì nhiều tay chạm, khách đọc nhầm phần cọc thành tiền thuê hay cãi. Cô gái hỏi công, cậu đưa số ít nhưng trả ngay từ khoản bảng trạm đã dành.

A Chi nhận, ngồi dưới ánh vách cùng cậu. Tầm ở cạnh xem phiến giữ không lực để tay nghỉ, nghe họ tranh chỗ viết chữ trả lại. Nhạn muốn để thật to, vì lần nào người nhà cũng phải giải thích. A Chi bảo để cả giá thuê to, nếu chỉ cọc lớn khách nhìn thoáng lại tưởng đắt.

Cậu kể thích lên trạm cao nhìn sao lạnh, nhưng mới nhận việc chưa có người thay để đi. A Chi nói đi xa phải xin ca trước, không tự có ai coi vì mình mong. Rồi cô im, nhìn Tầm như nhận ra mình vừa mượn giọng chủ tiệm. Cả hai cười, cô quay lại bảng.

Tầm hỏi Nhạn có nghe đường sáng dưới vách từ nhỏ không. Cậu nói có, nhưng mình không phân lực được như người già ở đây, chỉ biết khi đá sẫm phía nào phải báo, không giả hiểu hết vì sống cùng nó. Cô nhìn dòng nhạt dưới giường, thấy lời ấy đáng giữ hơn cách gọi cao xa người ngoài thích đặt.

Có tiếng người cãi ở phòng kế. Một khách muốn hong áo bằng đốm hỏa, bảo không ai ngủ được trong đồ ướt. Bà Dụ đem cho đổi áo khô mượn theo phí giặt, chỉ chỗ đem đồ xuống bếp sáng mai. Người ấy vẫn lầm bầm, cuối cùng nhận. Không ai bị lôi ra phạt chỉ vì đã than lạnh, cũng không được đốt cho xong câu than.

Tầm sờ tay sẹo qua lớp vải, biết nỗi khó của người ấy có thật. Sự cấm không làm thân thể khỏi cần ấm. Cô hỏi chăn thêm, trả khoản mượn nhỏ, để tối ngủ được thay vì dựng hỏa rồi coi bản thân ngoại lệ.

A Chi nhận công chép, chia một phần để trả đèn nếu sáng muốn xem lại. Tầm bảo phí mẫu thuộc chuyến, không lấy công riêng của cô lấp. Cô gái cất lại, bảo vậy dành gửi thư cho mẹ từ trạm. Nhạn chỉ người đi xuống sáng, lần này đưa giá trước, không nói tiện đường ai cũng giúp.


Đêm, ánh vách yếu dần. Tầm tỉnh vì bên ngón sẹo có cảm giác kéo, không rõ do lạnh hay sau ngày bấu dây. Cô đặt tay theo chỗ ít căng, nghe mưa sương trên mái. Một lần cô tưởng có tiếng lò gọi người giữ, rồi nhận chỉ là gió qua khe, bèn nằm yên.

A Chi cũng chưa ngủ. Cô hỏi nếu không dùng hỏa, Tầm có còn xem mình là người làm được gì trong chuyến không. Câu hỏi tới từ phía tối, không chỉ là bài kiểm nghề. Cô gái vừa chọn đi để khỏi làm người chép hộ mọi câu, giờ tới nơi thế mạnh của chủ cũng bị cất.

Tầm nhìn đường sáng nhỏ trên đá.

— Hôm nay chị nhờ em giữ đèn mới nhìn được vỏ. Chị vẫn chưa biết lõi. Cả hai đều thật.

A Chi im một lát, rồi hỏi khi Trì Nhu không muốn gặp nữa thì sao. Cô đáp họ tới đúng hẹn được, còn cửa mở tới đâu phải nghe người ở đó. Quân đã gửi tin, không thể mở cửa hộ bằng tên thương xã.

Tiếng sáo Mạc nổi rất khẽ ngoài hiên. Hai nốt đúng, nốt thứ ba vấp, lần này không ai gõ bàn để trêu. Tầm nghe anh thử tới chỗ chưa nhớ rồi ngừng, thấy căn trạm không lò cũng có thứ đủ quen để ngủ.

Sáng, họ nhận thư trả từ hướng vườn. Trì Nhu cho người đợi ở điểm rẽ, không nói có hàng. Quân đọc, cất bản mới theo tuyến, không còn chỉ trông bản cũ có lò. A Chi gửi thư cho mẹ, ghi mình đã thấy bọ sáng và ngủ giữa đá biết giữ lạnh, không viết đã lên tiên cảnh.

Trước khi khép ngăn, Quân lấy một tờ bản tuyến mới, chép vị trí bếp thật và khoảng đường vòng tới Mắt Cá. Ông nhờ bà Dụ xem, bà sửa hướng rẽ đầu vì người mang hàng không đi bậc khách bộ.

A Chi đứng cạnh, định chép ngay bản đã sửa. Ông đưa cô giữ đầu giấy, nói cần gửi về kho trước chuyến khác lên; nếu chỉ mang bản đúng theo nhóm, người sau vẫn nhận tờ cũ. Tầm nhìn hai người chia việc, không thêm tên mình vào phần đã có người làm. Họ rời trạm với một điều chưa biết về mẫu, và một điều về đường có thể trả lại cho người chưa tới.

Bà Dụ kiểm phòng, nhận chăn và bảng đèn mới. Tầm trả góc ngủ không đốm than, đổi lại mang theo một bản vân đọc bằng ánh lạnh, khác điều mình từng tưởng chỉ hỏa mới cho thấy. Cô xốc gùi, đi ra nơi Mạc đang đợi. Trên mặt đá trước cửa, đường sáng chìm xuống dưới sương ngày, để lại lối đi họ phải nhìn bằng đôi mắt còn chưa quen.

Trang sách tiếp theo

Chương 21: Vết trắng trên dây buộc

Quyển II — Đường đan ra khỏi thành

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!