Chương 19: Dốc gió đổi màu
Mục lục cuốn sách98 phần
Phần 19 / 98

Chương 19: Dốc gió đổi màu

Khoảng 12 phút đọc

Quyển II — Đường đan ra khỏi thành

Qua trạm cuối nhận thuyền, đường Sơn Dạ nằm thẳng đứng giữa hai mặt đá. Diệp Tầm xuống nền, ngẩng nhìn những vạch mờ trên cao. Cô đã tưởng nét ngoằn trong bản đường chỉ chỗ đi vòng. Mạc Từ chỉ một bậc bằng chân người, nói chiều nay họ lên theo đó.

Xe lớn của Tịnh Kính ở lại nhận hàng đường khác. Hai hộp chính chuyển sang giá lướt hẹp, phần dự phòng chia người gùi. Quân kiểm số, muốn giữ cùng một xe cho dễ nhận. Người trạm nói giá rộng không lọt khe thứ hai, nếu cố kéo thì lưng đá sẽ nhận vỏ trước, mẫu sau không còn gì để giữ.

A Chi mở bản Quân đưa, thấy khe được ghi nhưng không có chiều rộng. Cô hỏi người trạm có sẵn giá nào thuê, giá theo ngày hay lượt. Người ấy chỉ hai cái: một mới, một cũ còn mặt dẫn tốt nhưng tay vịn đã vá. Mạc chọn cũ vì biết lối giữ, nhờ thợ trạm kiểm ngay trước nhận.

Tầm nhìn mối vá, không tự đồng ý hoặc bác vì thói quen. Cô hỏi tải đã đi lần cuối, chỗ nào cần người thứ hai. Thợ chỉ hết rồi đẩy một hộp giả lên thử, đứng đúng vị trí sẽ có người giữ khi vào khe. Quân ký phần đổi phương tiện, nét mạnh như không thích phải giải thích thêm với kho.

Bốn người bốc nhận hai đầu. Một người tên Sủi cười, bảo đan sư hay hỏi hơn hàng muối linh, nhưng ít nhất đừng bắt anh đoán bên nào phải quay lên. A Chi chỉ chữ và vạch, anh nhấc đúng ngay, làm cô giãn vai.

Tầm mang gùi nhẹ hơn người khác, nặng hơn mọi chuyến quanh thành. Chiếc kẹp Lục sửa nằm sát lưng để khỏi va. Cô thử đổi vai, thấy không thể dùng tay trái kéo quai như trước, nhờ Mạc chỉnh rồi tự bước một đoạn tới khi biết chỗ cọ.

Đoàn đi lúc bóng trạm mới trượt khỏi mái. Phía dưới, thuyền co thành một nét gỗ, mặt vải cuối Vân Khê không còn nhìn thấy. Tầm quay đầu một lần rồi thôi; đường trước mặt đủ hẹp để việc nhìn lại cũng cần chọn lúc đứng yên.


Bậc đầu khô, sang bậc thứ hai có lớp rêu xanh đen. Nó phản ánh nền trời, làm chỗ lõm trông bằng phẳng. Mạc gọi là rêu nghịch quang, không phải mặt đá tự chịu người. Anh lấy gậy chỉ mép thật, cho người mới nhìn từ hai góc trước khi qua.

A Chi không hỏi có được dùng hỏa soi hết không. Cô đứng đúng vạch chờ, bọc bảng rồi đi theo chân người trước. Tầm tới sau, thấy bóng mình dưới rêu đi chậm hơn chân, cảm giác như ai giữ gấu áo. Cô bước nhầm nửa bàn chân, gót hụt, bàn tay phải bấu vào dây dẫn.

Mạc giữ điểm trước, không giật cô lên. Sủi đỡ gùi để cô tự lấy lại chân. Tầm cúi mặt, hơi thở dội vào đá; cô muốn xin lỗi vì làm cả đoàn dừng, nhưng người giữ sau đã hỏi chân nào đứng được.

Cô trả lời, làm đúng phần cần, bước qua chỗ khô. Khi yên, cô nói cần đổi vị trí gùi để tay phải không bị mắc. Họ chỉnh, mất một quãng nghỉ, không ai gọi đó là thắng rêu bằng tu vi. Cô chưa có kỹ năng đi trên đá sáng giả chỉ vì biết giữ hỏa giữa hai lòng.

Quân đề nghị bỏ lớp bọc ngoài hộp cho nhẹ khi lên bậc dốc. Tầm nhìn độ ẩm phía rêu, hỏi bọc ấy có thuộc điều kiện đã giữ từ kho không. Ông gật, chưa biết bỏ sẽ đổi mẫu thế nào. Người bốc nói phần nặng thêm có công đã tính, chưa cần cắt đồ để đẩy nhanh.

A Chi ghi thời gian dừng và trọng không đổi, rồi cất bảng trước khi đi tiếp. Tầm nhìn cô không bị cuốn vào mọi thứ đang muốn ghi, thấy buổi tập chép trên thuyền đã có ích. Ở đây không ai giữ chân hộ chỉ để một con chữ xong đẹp.

Tới bậc gió đầu, hộp mép ngoài nhận ánh xanh từ rêu và vệt lực. Mặt vạch giữ ở đó đổi màu, trong khi hộp giữa còn nâu. Sủi báo thấy, Tầm xin dừng ở khoảng đủ rộng phía trên chứ không ngay bậc.

Quân muốn mở kiểm để biết có mất hàng. Mạc chỉ sườn, gió đang dồn. Họ chờ tới chỗ bằng mới nói về thứ trong hộp, đúng câu anh đã dặn ở quầy trước khi đi.


Khoảng nghỉ chỉ rộng đủ kê giá và bốn người ngồi, phần còn lại đứng sát vách. Một cây lá cứng mọc trong khe đá, giữa lá có đốm sáng như hạt. A Chi muốn nhìn gần, Sủi bảo nó khép lúc người tới, nếu đụng sẽ hất sương vào mặt. Cô rút tay, ngồi ngắm tới khi lá tự xoay về ánh.

Tầm kiểm vạch ngoài, không phá niêm mẫu. Mặt giữ đã đổi thật, theo phần nằm hướng gió, chưa chạm mặt giữa. Cô ghi giờ cùng vị trí, lấy một hình phản ánh bằng phiến lưu nhỏ đã trả công thuê; nó giữ ánh hữu hạn, không đọc được điều hộp từng trải qua trước đó.

Quân hỏi liệu đây là cái họ cần tìm, nguyên nhân đan đổi. Tầm đáp ít nhất là điều cùng xuất hiện, chưa đủ thay quan sát trong những phần ở bên trong. Ông thở ra, lấy nước, không cãi một chữ chưa biết nữa. Cô nghe cái thở, biết mỗi lần của mình có một khoản công xe chờ phía sau.

Mạc bóc bánh, đưa phần mềm hơn cho Tầm trước khi bị cô nhìn. Anh bảo không ưu đãi người giữ hỏa, chỉ miếng này đựng dưới túi bị bẹp. A Chi nhận phần còn lại, dùng dao cắt thay bẻ, giơ miếng vừa cắt khoe mình đã nghe lời ở bữa cuối.

Sủi hỏi họ tới vườn Hãm Sương phải không. Nghe tên Trì Nhu, anh gật, nói lối vào vườn đang đóng một nhánh vì giàn cũ sửa, khách phải tới trạm xin người dẫn, đừng đi theo đường xe gom từng đi.

Quân mở bản. Nhánh cũ vẫn ở nét đậm, chưa cập nhật. Ông bảo người gom tháng trước chưa báo. Mạc nhìn trời, tính nếu đổi lối họ khó tới trạm trước lượt gió tối. Anh hỏi còn lối cao hơn nhanh không, Sủi lắc: nhanh với người không mang giá, không nhanh cho hai hộp.

Tầm tính phần mẫu cần giữ tới giờ, nhìn tay mình. Nếu trễ, họ có thể mất một lần kiểm đã định ở trạm, nhưng không thể đưa giá lên đường chỉ người đi được. Cô đề nghị báo tới trạm bằng người đang xuống, trả công thư, giữ bản chính theo nhóm.

Quân viết vài dòng cho kho đợi. Tầm viết lời riêng hỏi người vườn có thể tiếp ngày sau không, không nhờ giấy thương xã ra lệnh mở lối. Người xuống nhận công, đọc tên nơi nhận rồi cất vào ống khô. Lá cây trong khe khép khi anh đi ngang, hất một dải sương nhỏ ra, làm A Chi cười vì cuối cùng đã thấy nó tự làm.

Một đám mây thấp luồn qua khe, che trạm dưới chỉ trong chớp mắt. A Chi đứng sững, chỉ về một chỗ sáng đang đi ngược dòng trắng. Không phải đèn ai mang; cả một đàn bọ nhỏ bám mặt dưới lá cây, khi lá xoay thì ánh chạy thành hàng.

Sủi bảo nhìn từ thành người ta tưởng sao rơi trên núi, lên gần chỉ thấy bọ giành chỗ ấm. Anh lấy tay áo che cổ để chúng khỏi chui vào, nhưng không đập. Một con đậu lên mép bảng A Chi, sáng đến mức đọc được hai chữ cuối rồi bay.

Cô gái đợi nó đi mới cất bảng, nói mai kể mẹ chắc bà sẽ tưởng mình đem đèn buộc côn trùng. Tầm nhìn dải sáng mất sau lá, nhớ đã định dùng mọi lần nghỉ để đọc hộp. Cô dành trọn một lát đứng cạnh A Chi, không lấy phiến lưu ra. Lúc Mạc gọi đi, cô quay lại, giữ lấy điều vừa thấy dù không cất nó trong ngăn mẫu.


Chiều, gió ngang mạnh. Hai người trước đổi vai, giá lướt nghiêng sát mép đá; mặt dẫn dưới nó vẫn giữ lực nhưng không giữ người khỏi bước lạc. Tầm đi sau, chỉ nhìn lưng Sủi và đoạn dây trước chân.

Một tiếng rắc từ hộp ngoài khiến cô đứng khựng. Mạc gọi tiếp tới dấu nghỉ, Sủi báo vỏ còn giữ. Cô phải chọn tin người đang nhìn mặt ngoài rõ hơn mình. Cô bước, không đưa tay hỏa giữa đoạn đầy vệt lực để tự kiểm cho chắc.

Qua khe thứ hai, họ có chỗ hạ giá. Một đầu bọc vỡ, lớp đệm giữ được ngăn trong. Tầm kiểm cùng Quân và người bốc, xác nhận niêm không xê, mặt dẫn có một vạch thêm. Không ai sửa rồi ghi hộp chưa từng va. Quân giữ mảnh bọc, hỏi cô cần phần nào, phần nào bỏ được cho đường sau.

Cô chọn chỗ có mặt hướng gió đã đánh, kèm vạch, không bắt người bốc mang mọi mảnh chỉ để mình đỡ phải chọn. Sủi cuốn phần còn dùng, chia lại trọng. Anh hỏi công phần dừng ghi theo đoàn hay theo hộp. Quân trả lời theo người được giữ lại, không đợi cuối tuyến tự tính.

A Chi ghi công đủ rồi nhắc ông ký trước khi giấy ẩm, giọng bình thường như quầy nhà. Tầm nhìn cô, nhận ra đứng nơi không quen không buộc mình nói nhỏ đi với người có quyền trả. Cô gái cũng không dùng sự đúng để giục người vừa gánh hộp đặt bút ngay lúc còn thở.

Một phu trẻ nhìn mặt vạch xanh, bảo người trạm gọi màu ấy là dốc đã nhận hàng. Anh cười, không có nghĩa vật trong đan được núi chấp nhận. Tầm thích cách gọi, ghi ở mép riêng, không để nó lẫn vào kết quả.

Gió dịu khi họ rời khe. Từ đó đường thấp dần tới mái trạm, ánh đèn nằm giữa cây lá bạc. Tầm nhìn, tưởng gần, nhưng phải thêm cả một đoạn bậc. Mạc không hứa chỉ chút nữa, nói còn hai chỗ đổi vai để cô biết sức mình cần tới đâu.


Trạm đã đốt đèn, không đốt lò. Người giữ cửa ra nhận giấy gửi trước, chỉ chỗ để giá tránh tường có vệt sáng. Tầm nghe hơi lạnh chạy sau đá, hỏi có phòng giữ mẫu riêng không. Bà chủ nói có góc khô, không có hỏa cho khách; phần núi này cấm nhóm ngoài chỗ được giữ.

Quân định trình thẻ thương xã, bà chỉ danh sách người từng trả tiền sửa sau lần dùng hỏa sai. Không ai được phép vì có tên lớn hơn. Ông cất thẻ, hỏi cách giữ hộp khi đêm xuống. Họ sẽ nghe giải thích trong phòng sau khi người bốc nhận công và chỗ ngủ.

A Chi tháo gùi, mặt đỏ vì lạnh. Cô đã đứng được cả chặng, chỉ hỏi chỗ rửa tay trước khi nhận bát ăn. Tầm đặt kẹp chưa dùng xuống, ngón trái cứng, không cố mở mẫu đúng giờ chỉ vì đồng hồ trên giấy đã tới.

Ngoài sân, Sủi và người phu trẻ hạ giá, tự kiểm vai nhau. Quân tới trả phần công theo lượt, không giữ tới sáng để buộc họ đi cùng nữa. Mạc được bà chủ gọi giúp đóng vệt cửa phía đông, tiếng gỗ kéo vang qua nền.

Tầm đứng dưới mái, nhìn hai hộp đặt cạnh nhau. Một mặt ngoài xanh, mặt giữa vẫn nâu, cùng đi đúng một con đường. Cô chưa có lời giải cho viên đan, nhưng đã bỏ được câu hỏi vì sao hàng trên giấy giống nhau lại không chịu giống nhau. Chúng đã không đứng ở cùng một chỗ trước gió.

Bà chủ mang hai chiếc chăn, hỏi ai ngủ gần cửa. Tầm nhìn vệt sáng dưới tường, nói cần nghe trước chỗ nào không được kê đồ. Bà gật, kéo ghế để họ ngồi. Đêm núi đầu tiên mở ra bằng một căn phòng không cho cô dùng ngọn hỏa quen, trong khi ánh đèn ngoài khe đá vẫn cháy bằng thứ lực cô chưa biết đọc.

Trang sách tiếp theo

Chương 20: Một chỗ ngủ không có lò

Quyển II — Đường đan ra khỏi thành

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!