Chương 33: Người đi tìm từng hộp
Quyển II — Đường đan ra khỏi thành
Hộp đầu tiên nằm dưới một chiếc ghế đẩu, người nhận đã dùng giấy bọc để kê chân. Diệp Tầm cúi nhìn nhãn còn dính ở mép, thấy tên mẻ mình bị gấp đúng chữ Sương. Chủ nhà phải nhấc cả ấm nước khỏi bàn mới lấy được.
Ông chưa dùng đan. Bạn mua hộ nói ở trạm có loại mới giữ được đường núi, ông để dành cho chuyến xuống có đàn lừa sừng chở đồ. Ông không nhận được tờ điều kiện vì người mua hộ giữ cho khỏi ướt rồi quên trả.
Tầm đặt bản đọc được trên bàn, giải thích mẫu thử xuống đổi, đề nghị dừng dùng và nhận lại tiền. Ông hỏi sao hôm mua không nói phải đọc cả tập. Cô nghe tên mẻ đã đi qua hai miệng, sự hào hứng còn, phần chưa thử mất ở quãng giữa.
Cô không bảo lỗi ở bạn ông nên không thuộc tiệm. Phiếu giao của mình phải có phạm vi đi cùng hộp, không chỉ tập người trả tiền cầm. A Chi ghi đúng chỗ thiếu, nhận lại viên nguyên và phần giấy khác trạng thái riêng. Giá hoàn được tính như đã báo, không chờ họ chứng mình suýt khổ mới trả.
Ông gõ mép bàn, hỏi còn biết ai mua khác không. Mạc đưa tên chuyến, nhờ hỏi người giữ đàn ở bãi ngoài. Ông nhận chỉ đường, không tự thành nhân chứng cho những hộp mình chưa thấy.
Ra khỏi nhà, Tầm có số đầu đã khép. Nó không lớn, chân cô vẫn mỏi vì bước trong đất trạm cả buổi. A Chi đặt một dấu theo dõi, rồi cất sổ khi có xe lướt qua, không đọc tiếp giữa lối chỉ vì mọi phút đều có người chờ.
Mạc báo hộp cuối có thể theo chuyến rời bãi lúc chiều. Họ phải chọn đi bãi trước, phần một người còn ở trạm có thể hẹn tối. Tầm đổi thứ tự, nhờ người nhận công khác thông báo giờ lại, không để người đã hẹn đứng chờ trong khi mình đi làm điều cấp bách hơn.
Bãi lừa sừng nằm ngoài những mái giữ đan. Con vật trông gần lừa thường nhưng một chiếc sừng bẹt trên trán giữ vệt lực mỏng, giúp tải bớt dồn khi qua nền đổi. Chúng không bay, vẫn bực khi người buộc sai và thích cắn chỗ áo có muối.
A Chi giấu cổ tay áo theo lời Mạc, tránh một con đang nhai dây giỏ. Người giữ đàn tên Du, da sạm, tay xách chậu cỏ địa phương màu tím. Chị nghe tên mẻ thì chỉ một người đã lên chuyến trước, không có ai tên trong phiếu họ mang.
Mạc mô tả người nhận hộ và thùng. Chị nhớ, gọi một cô thợ trẻ tới hỏi giờ, rồi mới nói đoàn ấy chưa ra cổng, đang cân ở bãi trên. Đi đường người qua sẽ kịp, đi theo đường đàn vòng thì chậm hơn.
Họ phải dừng ở cửa đầu vì đàn chưa chịu chuyển. Người cân gọi, một phu bên ngoài giục, con đầu đàn đứng yên nhai, chiếc sừng bẹt giữ một vòng ánh nhỏ không đổi. Tầm tưởng nó bướng, thấy Du cúi sờ dây ngang ngực rồi chỉ phần nền sáng dưới chân.
Chị bảo vệt nền đang trả ngược, con già nhận nhanh hơn người nên chưa bước. Lát nữa nó đi cả đàn sẽ theo, kéo vội chỉ khiến đám trẻ chen nhau. Chị không dùng một viên đan để sửa cái chậm ấy.
Mạc nhìn lên dốc, sốt ruột vì hộp cần tìm. Tầm cũng thấy giờ trôi, chân đã muốn theo lối bên. Du cho biết lối ấy ra phía sau quầy cân, đi được người nhưng không được chui giữa hai hàng vật đang nhận lực. Họ chọn vòng qua, mất một đoạn bậc thay vì chen.
A Chi đặt tay lên thân hàng rào, đứng đợi Mạc nhìn đủ lối trước khi đi. Tầm ở lại cùng Du, nhìn con đầu đàn. Ánh nền nhạt xuống, nó nhấc chân không cần roi, cả hàng chuyển theo như một tấm vải nặng cuối cùng chịu trôi.
Cô hỏi chị ghi nơi chờ này trên tuyến bằng tên gì. Du nói không một tên nào giữ được lúc nền đổi sớm hoặc muộn; chị ghi dấu con già và chỗ đất, mỗi mùa xem lại. Tầm không vội chép thành quy tắc cho đan. Cô chỉ đứng thêm tới lúc không còn con non bị kẹt dưới dây, thấy một nghề khác cũng sống cùng thời điểm không chịu vừa ô giấy của người mua.
Tầm nhìn dốc. Vai đã đỡ nhiều, cô vẫn không nhận mang gùi thêm, chỉ cầm giấy và tiền trả. A Chi nhắc lại phần đã bàn: mình đi nhanh trước với Mạc, Tầm theo sau. Tầm nghe, không giữ cô cạnh vì chuyện cầu làm mình sợ mọi đường. Đây là bãi có nền, việc họ làm đã rõ, không ai buộc người khác đứng chờ chân chủ chậm.
Hai người đi trước. Tầm cùng Du đi lối nền tới quầy cân, nghe chị kể loại đan thường người giữ đàn dùng ở đoạn nào, vì sao có việc nên để vật tự giữ thay bù hỏa người. Cô không lấy lời ấy cấp mẫu mới, chỉ hiểu mỗi nghề còn khác ngoài tên kéo hàng mình từng ghi.
Một con lừa trẻ giật đầu vì không muốn qua cửa thấp. Du không đập, tháo tấm trang trí quá cao khỏi sừng, nó mới bước. Tầm nhìn dải vải bóng, nghĩ mình đã bao lần muốn hàng đủ đẹp mà không tính thứ đẹp ấy có chắn đường vật sống.
Tới nơi, A Chi đã đứng trước một người phụ nữ đang buộc thùng. Cô không giằng hộp, chỉ giữ phần tờ dừng trước mặt người ấy và nói đủ tên người bán. Mạc ở bên, đợi người cân cho đoàn dừng tại nền, không kéo khách ra khỏi chỗ hàng còn treo.
Người nhận tên Khuê, mua hộ hai người giữ khung ở trạm rồi được tặng phần còn. Chị không biết đan có cùng phạm vi cũ, chỉ nghe có thể đem qua núi vì tên Bậc Sương. Khi thấy Tầm, chị nhìn tay áo cũ, hỏi có thật là người làm không.
Tầm đưa giấy đúng tên, bản kiểm và thông báo. Cô không tăng hỏa cho chị tin, cũng không nhờ Mạc kể chuyện lò chợ Vân Khê. Chị cần biết hàng trong tay mình là thứ đang được dừng, không cần bái một người cứu ai khác trước đó.
Khuê muốn giữ làm việc dưới này nếu chưa hỏng ở mọi điều kiện. Tầm giải thích đúng phần đã thử, phần dùng của chị khác, đề nghị nhận lại và hoàn phần tương ứng. Nếu chị vẫn muốn giữ, họ cần cùng người có nghề tại trạm xem việc trước, không tự lấy nguy cơ đường thành cấm mọi thứ chị làm.
Chị nhìn cổng, người đội giục. Cuối cùng chị đưa hộp, nhận tờ hoàn để trở về người đã tặng nói rõ, tiền được ghi người đang giao có quyền nhận phần này. Tầm hỏi có muốn giữ bản kết quả cho người bạn không, chị nhận cả hai, nói ít nhất đừng để họ tưởng mình đem đồ tặng bán lại.
A Chi chép, ngón còn kéo đau nhưng không bỏ dòng giải thích. Tầm nhìn cô, nhớ ngày đầu hai người sợ khách không tin chữ chưa biết, hôm nay cần nói đủ điều thất bại để người nhận giữ được quan hệ của mình ngoài một món hàng.
Cổng bắt đầu chuyển giờ, người cân gọi dọn đường. Họ xong phần giao, lùi khỏi lối cho đàn lừa đi. Một con quay đầu, sừng mắc dây vải trang trí mới, Khuê bật cười tháo nó theo cách Du vừa làm. Tầm cũng cười, lần đầu trong buổi không phải vì khó chịu được che.
Mạc xem danh sách, hộp cuối theo chuyến đã giữ được trước khi rời. Họ không vỗ tay. Còn tờ nhận của người ở trạm hẹn tối, phần mẫu gửi thử chưa đủ đường và phần ai đã dùng cần hỏi. Một số dấu khép không khiến trang tự trắng hết.
Trở lại, người hẹn nhận tối đang đợi đúng giờ mới. Ông đã dùng một phần cho giàn ở điều kiện trạm, chưa thấy nghẽn, không muốn ký một câu mình từng bị hại vì đan. Tầm không đưa câu ấy. Cô chỉ ghi ông báo chưa có ảnh hưởng trong việc đã kể, nhận phần thừa và thông tin còn theo dõi nếu thay đổi.
Người chuyên xem linh tức của đội nhận việc kiểm sau theo lựa chọn của họ; tiệm không tự phán người dùng lành chỉ vì ông nói hôm nay khỏe. Khoản công ấy được Tầm tính trong phần mình đã nhận cho lượt hỏi, không bắt khách mua tiếp để được hỏi nếu mai có việc.
A Chi cộng hoàn, so với tiền bán hộp kính, hụt ít vì thêm một lượt vận. Tầm lấy phần riêng còn, bỏ buổi mua vật liệu mình muốn. Mạc nhận công trước khi về nghỉ, đủ như hẹn, không bảo thôi vì thấy cô đang ít.
Ngạn tới nhận việc tối, giúp chuyển hộp trả vào khu riêng. Anh không quen mã nên hỏi từng cái, Tầm giải thích không gắt vì đã đọc quá nhiều lần trong ngày. Một lần anh gần đặt chung phần đã dùng, A Chi giữ lại, chỉ thẻ khác và đợi anh nhắc đúng rồi mới chuyển.
Tầm ngồi kiểm số. Có phần không còn nguyên để thử, có hộp mất giấy gốc, có người giao hộ không thể ký thay lời người dùng. Cô giữ các dòng mở đúng tên, không bù bằng chuyện cả thành đều nghe nên xem như đã báo.
Khi xong, danh sách còn một người ở tuyến xa đã được báo qua trạm nhưng chưa nhận trả. Họ có địa chỉ và người chịu theo, cô trả công giữ tin tới ngày cụ thể. Cô không gọi thu hồi hoàn tất trước khi có lời nhận, cũng không cần ngồi đó tự trừng phạt cả đêm vì chưa ép được xe chạy nhanh.
Ngày sau, thư Trì Nhu tới. Vườn nhận bản thất bại, không rút lời cho xem nguồn. Chị muốn biết đoạn chuyển thấp đã làm vật đổi ra sao, vì cây Hãm Sương ở dưới bậc mới cũng từng có vân gần như thế. Có thể họ cùng hỏi, nhưng không dùng mẫu đã trả để giả một vụ mùa mới.
Tầm đọc, thấy cửa không khép theo việc Hạ không mua lớn. Quỹ không đủ chuyến như cũ, phải đi ít người, có phần công cụ thể, dùng nguồn lưu ở vườn chứ không xin cắt thêm vì mẻ mình sai.
A Chi muốn đi, tay đã được người chăm cho phép việc nhẹ, vai không mang tải lớn. Mạc có tuyến ra, không theo vườn lần này. San nhận dẫn nhóm nhỏ trong ngày nếu đường cũ mở đủ; cần trả phí khảo sát trước, không đem cảm tình mấy ngày thành giá rẻ.
Tầm gửi phần kế hoạch cho Hạ theo nghĩa vụ báo kết quả, không xin chị trả thêm ngoài khép. Chị đáp sẽ nhận báo cáo và xem sau, không hứa lại cột giá rộng. Quân để một bản nguồn đủ cho đối chiếu trước khi đi, không giấu vì hợp đồng đã hết.
Tối ấy, Tầm tới bãi trả bát Du cho mượn nước. Chị đang chải phần sừng một con lừa già, hỏi hộp đã đủ về chưa. Tầm nói còn một nơi chờ nhận, phần khác đã có, không bớt chữ còn để câu nghe nhẹ.
Du gật, nhờ cô ghé gửi một phong thư lên người quen ở Hãm Sương nếu thật đi. Tầm nhận chuyển theo công đường và phần trách nhiệm rõ, không nhận cồng kềnh thêm một thùng vì ngại từ chối người giúp mình. Chị cười, nói phong thư nhẹ đủ, không phải món ai cũng muốn gọi tiện.
Về phòng, A Chi đã gấp giấy mới lên đầu ngăn. Tầm đặt những hộp đã trả xuống nơi giữ, không mang chúng đi để mỗi bước phải nghe tiếng lỗi của mình. Cô chỉ mang điều đã biết, phần còn cần hỏi và khoản công đủ trả người cùng đi. Chuyến tìm từng hộp đã khiến đan trở về đúng tay chịu dấu; chuyến kế cần đưa câu hỏi trở về đúng đất từng sinh nó.
Chương 34: Đường về qua vườn cũ
Quyển II — Đường đan ra khỏi thành