Chương 68: Người nằm dưới mái buồm
Quyển IV — Mùa triều ngưng
Mái che người nghỉ được căng bằng một phần buồm dự phòng, thấp hơn gian ăn thường, có những chỗ vá hai màu. Nhung nằm bên cột trong, mắt mở mà chưa đứng dậy, tay trái đặt ngoài chăn như còn chờ một đầu kẹp người khác sẽ đưa.
Bà Ngữ, người chăm trên Mười Cánh từ Cổ Diên, ngồi xem phần lực của chị sau khi đã hỏi những việc giữ qua bão. Không có đan mới từ hai phiến rạn Tầm đem về, các mẫu ấy đã mất, thứ dùng trên tàu phải đúng phần đã có nhận và căn tính người nhận được xem riêng.
Nhung chưa giữ hỏa đều, vai bị căng một bên, bà cho nghỉ việc nguồn chứ không nhận lời chị nói chỉ cần ngủ một quãng là đủ. Tầm đứng chờ ở ngoài, thấy bàn tay chị khép lại trên chăn, rồi mở, nghe lời đáp nhận mà nét mặt chưa hề nhẹ.
Phàn ngồi gần cửa để cẳng phải được xem, áo đã thay, vết rách không nhờ bậc Ngưng Đan mà tự kín qua đêm. Ông hỏi ngày nào có thể giữ kẹp, Ngữ chỉ trả lời phần hôm nay được làm, không bán một ngày chắc cho người đang muốn có việc để thôi nằm.
Kha ở góc khác nhận lớp lót vai khô, túi dụng cụ mất đã có bản kê. Anh muốn viết thêm tên người bán để sau này mua lại đúng loại, Tầm cho mượn bút, không để bộ nghề nhỏ đứng ngoài chỉ vì tàu lớn còn nhiều thùng thiệt hơn.
Nguồn giữ khoang đang được chia theo người thật cần nghỉ. Quỳnh vừa hết ca chuẩn mới tới ăn, Ninh thay phần găng ướt, Nậu nhận lượt boong sau khi giọng đỡ khàn. Những người cứu và những người được cứu nằm, ngồi, làm xen nhau dưới một mái có giới hạn chỗ, không bên nào được coi hết mỏi vì bên kia còn khổ hơn.
Tầm ngồi xuống cạnh Nhung theo lời mời, chỉ làm việc nhẹ sau quãng ngủ. Chị đồng nghiệp nhìn tay cô, hỏi vệt sẹo từ lò nào, cô đáp Vân Khê và nói ngắn về một lần mở đường trả ở lò lớn. Nhung nghe, không kể chuyện mình đau hơn, cả hai nằm im một quãng trong tiếng buồm che rung trên đầu.
Người giữ số kho Tuyến Bắc tên Tụ tới bàn thiệt lúc gần trưa. Ông có phần vốn riêng trong một giá hàng đã bỏ, tiền nhiều mùa công dành lại, không chỉ ghi cho chủ thương xã. Nhìn dòng tên giá, ông hỏi Tầm có phải chính cô đã dẫn phần lực để nó được đẩy khỏi tàu không.
Cô đáp phải trong phần mình cùng làm, quyền bỏ từ Hạ, đường do người lò của tàu chỉ. Ông hỏi nếu giữ thêm được một lúc có thể đưa riêng thùng của mình ra không, nói tới cuối giọng run rõ, tay đè trên thẻ vốn tới mức giấy cong.
Tầm nhìn người trước mặt, không kể lại cảnh lực đang tới như một bài để ông thôi tiếc. Cô nói điều mình thật thấy ở kho, phần chỉ giữ được một nhánh, người chưa ra và lúc người trạm báo lượt nước còn. Cô chưa từng nhìn thấy lối giữ riêng thùng ấy an toàn trong quãng đó.
— Tôi biết cô không mở kho để lấy đồ, — ông Tụ nói. — Nhưng tôi vẫn cứ giận. Lúc thấy người lên xuồng tôi mừng, rồi nghĩ cái phần mình mất, tôi lại muốn ai chịu nghe.
Nậu đứng cạnh, không bảo người còn sống phải biết ơn. Ông lấy ghế cho người giữ số ngồi, nhắc bản thiệt có phần vốn ấy theo tên, người nhận sẽ cần chứng ông giữ chứ không gộp hết vào một khoản của Hạ rồi hỏi sau.
Hạ tới khi được báo, cổ tay quấn lớp đỡ dưới tay áo, còn đủ ngồi nói nhưng chưa nhận việc giữ lực. Chị xác nhận phần kho đã giao người cứu bỏ, trách nhiệm tài sản đối với những người có phần không chuyển sang tay Nậu và Tầm vì họ đã chạm vào thùng.
Ông Tụ nhìn chị, chưa hỏi hết bằng lời, Hạ nhận hẹn buổi khi có bản gốc đối và người bến, giữ khoản khẩn cho công ngày tới. Chị không trả một cái giá rất nhanh để ông thôi giận trước mặt người được cứu, cũng không vì mất tàu mà cho mình quyền chỉ nghe lời cảm ơn.
Tầm cất bản phần mình, ông Tụ còn ngồi với người kho khác nhắc số lô. Cô đi ra lấy nước, lòng hơi nặng, không rõ mình có thể làm thêm gì ngoài giữ đúng lời thấy. Cái không rõ ấy ở cùng bữa ăn, không được đẩy trở lại mặt người vừa nói điều khó nghe.
Bếp phải nấu hai lượt vì thêm người, nước và vật giữ nóng tính theo phần còn đủ tới bến. Nậu đưa số, hỏi bên Tuyến Bắc ai biết món mình ăn được, không phải mọi người chỉ cần sống là có thể nhận bất cứ thứ gì nấu lên.
Một thủy thủ cũ nhận giúp phần việc nhẹ, nói đã nấu trên chuyến khác, tới khi cầm muôi lại phải ngừng vì cổ tay đau từ buổi giữ dây. Bà Ngữ nhìn, đổi người, anh ngồi cạnh chỉ cách mình làm chứ không phải cố đứng để trả công được cứu.
Hạ nhận chi phí vật và công thêm theo phần nguồn mình có thể giao ngay, phần lớn đang ở tàu mắc rạn nên không được gọi là đã chuyển. Lan chọn dùng dự trữ Mười Cánh trong lượng có thể, ghi khoản cần đối sau, không làm đói người đang nằm chỉ để chờ đủ chữ, cũng không bắt người góp vốn tàu im chịu mất hàng không tên.
Tầm phụ chia phần ngồi, không nhận mang nồi vì tay trái còn kéo. Quỳnh đi bên xách phần được giao, nhận lấy nước cho mình trước khi ngồi cạnh Phàn. Ông giữ bát bằng tay lành, chậm, một vệt canh rơi lên tay áo khiến ông nhăn mặt rồi tự lấy khăn thay vì để người khác ăn nguội nhìn mình chật vật.
Ninh tới với gối đã được xem, được nghỉ phần leo cao, vẫn đủ ngồi kiểm bọc tuồng khi có giờ. Cô hỏi tàu còn chín buồm có cần đổi tên không, Vĩnh ở đầu bàn bảo nếu mỗi lần gió lấy một mảnh lại đổi thì người bến đọc tên trước chưa xong tàu đã có tên sau.
Lan cười lần đầu từ đêm trước, đáp Mười Cánh còn phần cánh sẽ sửa khi có công và vật, chưa tới lúc thuê người sơn tên. Nậu bảo tốt, cuốn hình quán của ông chưa đủ trang cho tên mới, câu nói khiến cả mái cười ngắn rồi có người nhăn vì đau vai.
Tầm ăn cùng tiếng ấy, canh hơi nhạt hơn món ở tiệm, lại ấm vừa đủ khiến ngón tay bớt cứng. Nhung nhận phần mình dưới mái, ngẩng nhìn họ cười rồi cũng bật một tiếng nhỏ, không cần chị đứng dậy làm được lò mới có chỗ trong bữa.
Ông Tụ ăn muộn, nhận ngồi xa đầu bàn một chút. Không ai kéo ông vào giữa để buổi chung trông hết rạn, Ninh đem phần còn nóng tới, hỏi có cần thêm chỗ để bản vốn khỏi ướt không. Ông lắc đầu, cất giấy vào áo rồi ăn, vẫn chưa nói mình đã thôi giận.
Buổi chiều, Lan tới nói với đội Mười Cánh về quãng cứu phát sinh. Giờ xuồng, vật nạp, phần nghỉ và thương phải có công rõ, không dùng mấy câu các người đã làm điều tốt để người làm tự bỏ phần tiền mình cần gửi về.
Hạ nhận công của đội cứu là khoản phải trả cùng phần thương xã và những bên có hàng đã được giữ theo chứng, không yêu cầu thủy thủ của Lan ký một lời theo kho trong chuyến sau. Ninh hỏi có cần quay tới bến đưa bọc tuồng Bách, Lan nói sẽ theo đường gửi đang có khi nhận đủ, không gọi cô vừa nghỉ gối lại phải chạy lấy lòng người ngoài.
Quỳnh xin giữ kế hoạch một tháng học ở Cổ Diên sau khi về, bão làm chị muốn học khung đủ hơn, không làm chị hết quyền có lịch riêng. Lan xem ca, hẹn bố trí người thay bằng việc thật, giá chuyến sau sẽ phải tính lại, không để câu tàu đang thiếu người thành sợi dây buộc cô mãi trên biển.
Tầm nghe, tự xem lịch về và lớp còn. Cô có thể nhận một chuyến quan sát rạn sau bão khi người nghề thấy đi được, chưa nhận ở tới khi đủ hết nguồn đã mất. Người vườn ở Sơn Dạ có mùa mình, người trên tàu cũng có đời không chờ cô hoàn tất một câu chuyện đẹp.
Phàn đưa giờ những phần mình có thể đọc nhẹ khi bà Ngữ nhận, công nặng ông không lấy. Ông nhờ báo xưởng về vết thương và khung sau bão cần người kiểm, chưa có câu làm lại cho đúng là đủ để nhận hết phần sửa hỏng trong khi cẳng tay chưa về.
Tầm đưa ông phần thư Khiêm được phép chia. Ông đọc số khớp một đợt, dừng ở dòng chưa hết, gấp lại trả, không giữ để đem khoe mình đã được người cũ xác nhận. Ông hỏi khi về sẽ có nơi nhận khoản tiếp đúng lịch không, cô đưa địa chỉ, không nhận làm người cầm hộ tiền trong mọi chuyến.
Ngoài boong, Vĩnh và Duật đối đường mình đã thấy khi bão đổi. Duật chỉ một hướng rạn tưởng còn theo bản cũ, Vĩnh đưa vệt nước thực họ đã tránh, cả hai không dùng việc một tàu còn nổi một tàu mắc làm phép chia người giỏi kẻ ngu.
Lan nhận phần gửi trạm biển, những tàu sau cần bản có điều đã đổi hơn câu người trước vì sao không tránh được. Hạ ngồi nghe tới lúc hết việc liên quan rồi trở vào nghỉ, không đòi vai người ra lệnh mọi phần chỉ vì nhiều hàng thuộc kho mình.
Đêm xuống nhẹ hơn đêm bão, trong khoang vẫn có người thức vì cứ nghe ván kêu là tưởng nước lại tới. Tầm tỉnh một lần, thấy Nhung ngồi dựa, phần tay chưa về đều, cô đem đèn hạ thấp để chị khỏi nhìn mỗi bóng chuyển trên trần.
Nhung nói mình giận cả lò, giận vì mấy năm giữ giờ tới lúc như thế vẫn không biết bàn tay mai có còn nghe. Tầm không hứa sẽ có một viên đan cho nó yên ngay, kể tay mình có những ngày ổn, có những ngày phải đổi, chuyện ấy cần người đúng nghề xem và cần công việc chấp nhận được người đang thật có.
Chị đồng nghiệp nghe, thở ra rồi hỏi nếu không giữ ca nặng có còn nhận việc gì trên bờ. Cô nói có phần đọc vật, kho nguồn, sửa khung, nhưng không đứng thay chị chọn trong một đêm chưa hết mệt. Nhung gật, bảo mai hỏi Quỳnh về lớp sửa, hôm nay mình chỉ muốn ngủ được.
Ninh ở góc vừa khép bọc giấy, đem một tấm khô đủ nhìn tới cho Nhung xem nếu chị muốn. Hình người trong vở đứng trên thuyền có chân rất to, Quỳnh nhìn qua bảo người vẽ ít ra hiểu điều quan trọng khi sàn cứ chuyển. Tầm bật cười nhỏ, Nhung cười theo rồi đặt lại, kéo chăn lên bằng tay đủ sức.
Gần sáng, người trạm rạn đưa tin một dải Lưng Mực bị vỡ sau bão, những người giữ nguồn đã tới điểm nhận an, Bồi cần khảo sát phần có thể giữ và phần chưa nên lấy. Không xin đan sư ra làm biển trở lại, chỉ hỏi ai đã có kết quả quan sát được phép chia và còn đủ sức nhận chuyến xem nhẹ theo người rạn.
Lan nhận để xem đường sau khi trời sáng, không gọi người đang ngủ dậy ngay vì nghe có việc. Hạ có những khoản đặt mùa phải trả lời, Nhung có nghề của mình cần giữ, Tầm có những câu về phiến đã mất và cái khoang rỗng vừa bắt đầu hiểu.
Dưới mái buồm vá, những người nằm còn vết thương, tiền công và lời giận. Một chuyến cứu đã đưa họ tới được chỗ có thể nói những điều ấy, chưa trả thay toàn bộ đời sau. Tầm đặt đèn yên trên gờ, nghe tiếng nước còn ở ngoài mà khoảng tối trong khoang cuối cùng có thể dành cho một giấc ngủ thật.
Chương 69: Rạn đá không xin chữ ký
Quyển IV — Mùa triều ngưng