Chương 55: Đan lên tàu Mười Cánh
Mục lục cuốn sách98 phần
Phần 55 / 98

Chương 55: Đan lên tàu Mười Cánh

Khoảng 12 phút đọc

Quyển IV — Mùa triều ngưng

Ở Cổ Diên, người bến không gọi hàng theo tên phố mà theo mặt nước. Tầm đứng dưới mái đỏ chờ xe đường dài trả gùi, nghe ba lần “bến dưới” chỉ ba chỗ khác nhau, tới lúc hỏi mới biết dưới ở đây là phía triều đang kéo, đổi lượt có thể phải gọi lại.

Người chở cười, đưa cô tới quầy nhận đường. Từ đó thấy cả một dãy tàu lưng cong, buồm gấp như cánh vật ngủ, những sợi dây phản ánh biển thành đường xanh chạy ngang trời. Dưới chân cầu, cá mang đèn lướt qua, phần sáng nằm ở mang chứ không theo mắt, cả đàn quay khiến bóng một mái lều sáng từ dưới lên.

Tầm dừng nhìn quá lâu, bị một người kéo thùng gọi nhường. Cô lùi, gùi va cột, xin lỗi rồi đứng đúng ô khách đợi. Cổ Diên đẹp, cũng là nơi nhiều người đang cần chuyển hàng qua phần đất cô vừa chiếm để ngắm.

Mười Cánh nằm cuối dãy cầu phía nam, rộng hơn con thuyền thử ở Vân Khê nhiều lần. Mười tấm buồm ngắn gấp quanh hai sống cột, không phải mười đôi cánh phép nâng tàu khỏi sóng. Phần nhận lực để đổi hướng buồm nằm tách đường lò, thân vẫn nổi trên nước và có tiếng gỗ cựa mỗi khi tải được đưa lên.

Hứa Lan đứng ở đầu ván, gọi tên cô rồi chờ người bốc qua trước mới mời tới. Tầm nhìn khe nước giữa tàu và cầu, bàn chân chậm một nhịp. Chị đưa tay về phía thanh vịn chứ không nắm gùi cô kéo qua cho nhanh.

— Bước lúc cô đã chọn chỗ, — chị nói. — Tàu chưa đi đâu.

Tầm đặt chân, sàn nhấc lên nhẹ rồi hạ, đầu gối cô cứng như đang muốn giữ mặt đất tại chỗ. Lan dẫn tới nền giữa, bảo ngồi trước khi đi xem lò. Cô ngồi, trong gương đồng treo ở cột thấy mặt mình nghiêm tới mức bật cười.

Một thủy thủ trẻ đi ngang nhìn, cười theo rồi bảo đừng nhìn mặt nước lâu ngay buổi đầu nếu nó cứ kéo mắt cô đi. Cô gái tên Ninh, người giữ dây buồm phía trước, bàn tay thoăn thoắt tết đầu dây trong lúc nói. Cô chưa đi quá một quãng ván mà người biển đã thấy đủ những chỗ người thành muốn giấu.


Lan không đưa Tầm tới bàn khế ngay. Chị gọi Nậu, người coi boong, dẫn cô xem lối đi, phần nào đang có dây chịu lực, tiếng gọi nào phải dừng chân trước khi hỏi. Ông có một chòm râu cắt rất ngắn, suốt lượt chỉ gọi cô bằng tên, không nhắc dấu nghề ở Vân Khê.

Tầm theo, đưa gùi thấp như người bến chỉ. Có đoạn một sợi dây nằm im ngang ngực, cô tưởng đi dưới được, Nậu cản vì lúc đổi tải nó sẽ quét xuống chứ không nằm mãi cho cô cúi. Cô nhìn người giữ hai đầu thử một lượt, nhớ đường vòng bằng chân thay vì chỉ gật với bản hình.

Trong khoang lò, Vũ Quỳnh đang xem một vật nhận treo. Chị Dẫn Hỏa có mắt hơi xếch, tóc quấn trong khăn, nhìn bộ kẹp Lục sửa cho Tầm rồi hỏi đầu nào rời khi thân nghiêng. Tầm chỉ, làm mẫu trên vật trơ, Quỳnh nhận đem thử ở bàn trong chứ chưa cho gắn vào lò tàu.

Lò được giữ trong khung treo có khoảng quay, nhưng không tách mọi chuyển động khỏi người giữ. Mặt trong có những vệt xước từ lúc vật trượt ở ca cũ, đã được đánh dấu và thay phần chịu, không đánh bóng cho khách thấy cả tàu như mới.

Quỳnh nhờ Tầm giữ một đèn thấp trong khi chị đổi hướng khung. Cô làm được ở lượt đầu, tới lượt ngang thì vệt sáng nhảy, muốn lấy hỏa đuổi nó về. Chị gọi dùng mắt theo điểm nhận đã cố định với thân, không theo mặt nước lấp qua cửa.

Tầm thử lại, đèn vẫn chao nhưng không bị cô kéo thêm một nhịp sai. Quỳnh cất vật, ghi phần đủ cho buổi thử, không nhận người mới đứng lò chính hôm nay. Tầm thấy nhẹ cả ở lòng lẫn vai, dù đã định chứng mình không chỉ mang tiếng nghề tới.

Ninh đem phần ăn xuống, nhìn hai người cùng nghiêm bên một cái đèn rồi hỏi nó có chịu trả tiền học không. Quỳnh đáp đèn trả bằng việc chưa làm cháy tóc ai, cô gái cười, đặt khay ở gờ có chặn. Tầm định đặt chén ở bàn trống, tàu nghiêng khiến nó trôi một đoạn, Ninh nhanh tay giữ, chỉ cái gờ vừa dùng mà không nói cô đã dặn rồi.


Ba tuần thử ở bến đi qua bằng những ngày không giống giờ trong tiệm. Có sáng không nhóm lò vì phải đổi tải, có chiều Tầm vừa nhận được cách đứng thì triều đổi, thân tàu nằm theo nhịp khác. Cô học đi trên boong, học chỗ ngủ không chặn cửa, học cất chiếc áo xanh để túi không mắc vào khóa cạnh giường.

Giờ nghề vẫn có giới hạn. Quỳnh và cô chia ca đã nhận, phần không đủ người thì dừng thử, không lấy đêm khách chưa lên làm lý do bỏ hết giờ ngủ. Lan thuê người kiểm tại cảng đọc phần vật và giữ một bản cho tàu, không để công được trả chỉ khi mẻ được kể là đạt.

Những thùng Nguyệt Sa được đưa lên theo vị trí thật trong khoang. Niêm ngoài không hỏng, vân giữa đổi sau một lượt thân nghiêng, thùng sát sườn và thùng giữa không giống dù trước đó cùng đặt ở bến. Tầm nhớ núi nhưng không bê câu trả lời núi tới: ở đây vật nhận theo triều và góc, không phải cứ chờ lâu trước ngưỡng là đủ.

Họ thử bằng phần rời đã được phép, giữ thùng chưa đụng để còn so. Một phiến có khoang rỗng chỉ hiện dưới ánh từ mặt nước lọt lên, đèn lạnh trên bàn lại làm nó trông như kín. Quỳnh nghiêng tấm nền theo tàu, Tầm nhìn thấy phần mình vừa bỏ qua, vui tới mức gọi Lan xuống xem ngay khi chị hết việc trên boong.

Lan ngồi nhìn một lượt, hỏi nếu tàu đổi hướng ngoài khơi thì ai đọc được mà không phải luôn dời thùng mở kho. Tầm chưa trả lời, chọn một chỗ có thể gắn vật chỉ trạng thái rời, nhận phần thử tiếp trong lượt đã thuê. Chị gật, đi trả lời người bến, không đứng đợi đan sư nghĩ ra đủ.

Một chiều chưa tới ca, Nậu đem cuốn hình các quán mình từng ăn ra sửa tên. Có quán đã dời sau lần cập trước, có quán đổi chủ mà món cũ ông nhớ không còn. Ông vẽ bát rất tròn, người cầm bát lại luôn thiếu một cánh tay, khiến Ninh nhìn rồi bảo thủy thủ quanh ông trông như vừa qua chiến trận.

Tầm được mời ghi tên mấy món Vân Khê vào trang còn trống, vẽ quán chị Hảo ở đúng đầu ngõ mới. Cô phải nhìn lại ba lần mới nhận mình đã vẽ bếp to hơn cả gian khách, còn cái biển nghiêng tới mức Lục sẽ đòi trả tiền sửa.

Nậu giữ nguyên hình, hỏi món nào người ngoài ăn không quen thì nên gọi ít trước. Tầm trả lời theo những gì mình thật ăn, không viết tiệm vào giữa trang chỉ đường khách của ông. Ninh đọc tên rạp chị Cận ở mặt sau, xin thêm một chỗ ngồi xem tuồng nếu có ngày lên thành. Tầm chép, ngồi dưới buồm gấp mà bỗng nhớ tiếng người trong ngõ rất gần.

Ngoài giờ, Tầm tới chợ cảng ăn một món nóng có mùi biển lạ, mua giấy không hút ẩm nhanh theo lời Ninh, viết thư A Chi. Cô kể mình làm trượt chén hai lần, nhận sai hướng bến một lần và cuối cùng giữ được ngọn đèn qua ba lượt nghiêng mà không thêm lực vội.

A Chi trả lời sau nhiều chuyến trạm, khoe hai lần đốm hỏa giữ lâu hơn, một lần tắt trước lúc muốn, bà Bích đã kể cho đúng hai nhà chứ không cả ngõ. Tầm đọc thư trên giường thấp, cười giữa tiếng tàu kêu và tiếng Nậu mắng một thùng được đặt chắn chỗ đi.


Ngày nhận phần thử trên chuyến gần, họ ngồi ở bàn boong có gờ giữ giấy. Lan nói rõ vùng đi, ngày dự kiến, điểm có thể trả người về cảng và phần chậm vì triều. Tầm đọc hết, hỏi ai có quyền bỏ thùng mẫu khi lò giữ không đủ cho người làm.

— Tôi quyết phần tàu, — Lan đáp. — Người đứng lò có quyền báo ngừng phần lò. Nếu cô nói phải bỏ mẫu để rời khoang, đừng đợi tôi xuống nhìn nó đẹp thế nào.

Quỳnh nhận điều ấy cho cả người giữ thay, không chỉ người được thuê có tiếng. Nậu hỏi khi tín hiệu không tới qua gió, chỗ nhận người ở đâu. Họ thử ngay một lượt bằng vật trơ và đường gọi trên tàu, tới chỗ khuất mới biết tiếng từ khoang không phải lần nào cũng đủ lên boong.

Lan đổi người nhận ở đầu thang trong ca lò, tính công ca đó, bỏ một việc trang trí buồm chưa cần. Ninh nhận một lượt, người khác lượt sau, chừa đủ giờ phần buồm mỗi người đang giữ. Tầm nhìn thời gian cộng vào giá, ký phần mình nhận sau khi lịch sửa xong.

Một người góp vốn tàu tới nhận bản, hỏi liệu bỏ hàng có phải lúc nào Lan cũng tự quyết được không nếu phần ấy là vốn chung. Chị đưa điều khoản hành trình đã được các người góp cùng nhận, công và hàng phải đối sau, quyền giữ người trong lúc nguy không treo tới khi gọi được hết chủ thùng.

Ông đọc, hỏi hai mục giá, không có cảnh vừa nghe cứu người đã bỏ hết phần tiền mình cần biết. Lan trả lời xong mới tới ký. Tầm chờ, thấy chức thuyền trưởng không phải một danh xưng đẹp giúp chị khỏi phải đối diện người đứng trên bờ tính vụ sau.

Cô ký công thử hữu hạn, phần nguồn và mẫu không bán cho mọi vùng biển. Tàu chở nhiều hàng khác, lò không được thử tới mức đẩy chúng vào nguy mà người thuê riêng chưa biết. Khi người bến nhận đủ bản, Lan hỏi còn muốn đi không, Tầm đáp có, lần này nhìn chị thay vì nhìn cái giá đủ đường về.


Sáng rời Cổ Diên, những tấm buồm lần lượt mở, ánh trên mép vải kéo thành đường thấp theo gió. Nậu gọi người trước, Ninh chuyển dây, những người mang tải đi ngang qua chỗ Tầm đang đứng, khiến cô tự lùi sát dấu nền vừa học. Tầm đứng ở chỗ đã nhận, gùi được cất dưới khoang, tay không cầm một mẫu ra ngắm giữa dây đang đổi.

Ngoài cửa cảng, cá mang đèn quay dưới bóng tàu, phần sáng làm nước trông như sâu hơn thực. Một con nổi cao, mang mở ra thành hai lá mỏng rồi chìm, Tầm nhìn theo tới lúc Quỳnh gọi vào xem khung treo chuẩn bị ca chiều.

Ở khoang, cô chạm chiếc kẹp Lục làm, sắt nguội đã quen tay. Khung treo chuyển rất nhẹ, đầu nhận không ở đúng nơi mắt cô cứ muốn cố định nó. Cô ngồi theo điểm đã học, thả lỏng bàn chân, thử nhận bằng đèn trước khi hỏa.

Tàu qua lượt nước đầu, đèn nghiêng rồi về. Cô giữ được, ngẩng nhìn Quỳnh, chị gật trước khi chỉ thêm vệt ngoài đang tới. Tầm lại cúi, niềm vui chưa đủ để làm mình mất phần tiếp, mùi gỗ ẩm và biển tràn qua cửa bên.

Trên boong, Hứa Lan nhìn hướng gió, ra lệnh đổi một cánh nhỏ. Tàu Mười Cánh không bay qua biển, nó rẽ nước bằng công của những người biết buồm, biết thân, biết kho và những phần phải nhường nhau trong một chỗ luôn chuyển.

Tầm nghe tiếng ấy trong lúc đặt hỏa thấp. Vân Khê ở sau nhiều trạm, A Chi có lớp sáng mai, Lục có ghế sửa và Hà có lịch mình. Trước mặt cô là một mặt lò phải học lại cách đứng, ngoài kia nước còn trải dài hơn tất cả những đường cô từng vẽ. Cô nhận ca đầu đã chọn, để tiếng biển đi vào nghề bằng nhịp rất nhỏ ngay dưới bàn tay.

Trang sách tiếp theo

Chương 56: Một ca không nhìn thấy bờ

Quyển IV — Mùa triều ngưng

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!