Chương 9: Người trực đầu tháng
Quyển I — Bảy ngả nước
Lý Vân tháo chiếc quai chuông lần thứ tư mà vẫn chưa đặt đúng chiều. An ngồi đối diện, thấy rõ mép lệch cọ dây cờ mỗi khi cậu kéo. Anh đã chỉ bằng than, đã đặt chiếc mẫu bên cạnh, đã nhắc đừng nhìn mỗi lỗ xỏ. Tới lần thứ năm, anh cầm lấy kìm.
— Để anh làm một lượt, em xem.
Vân rút hai tay về. An xoay quai, kê tấm đồng, ép nhẹ, nghe một tiếng khô ở phía phải rồi thử kéo dây. Cờ đi lên đúng mức. Anh quay sang giải thích thì thấy Vân đã cất chiếc mẫu dưới ghế.
— Sao cất?
— Quai xong rồi còn gì.
An nhìn cái kìm trong tay mình. Cậu học việc không nói giận, chỉ ngồi đợi việc tiếp, giống người khuân thóc chờ bao mới. Ba buổi một tuần Vân có thể tới, buổi này anh đã dùng gần hết nửa buổi làm lại phần của cậu.
Anh muốn bảo nhìn kỹ cũng là học, nhưng chuông ngoài mương ngân hai tiếng. Vân đứng lên ra cửa trước, tìm cờ. Cờ trắng ở giá thứ ba treo thấp, không người đáp. An xoay tai phải nghe lại, giữa tiếng đục gỗ nhà bên không nhận được có tiếng thứ ba hay chưa. Anh nhờ Vân đứng nơi sáng báo điều nhìn thấy, không đoán theo tiếng.
— Chỗ bể ngoài đồng. Cờ chờ. Không thấy ai ở giá.
An lấy túi, ra sân. Miên từ đường giếng tới, mang bản đo còn chưa cuộn. Cô cũng đã thấy cờ nhưng chưa nhận được lượt gửi mức đầu tháng. Sáng nay trời không mưa, mặt mương thấp; An thoáng nghĩ chỉ một ca vắng thì chưa đến nỗi. Rồi anh nhìn cái quai vừa sửa, nhớ rằng việc không nghe rõ cũng bắt đầu bằng những chỗ mình muốn cho qua thật nhanh.
Họ không chạy. An giao Vân ở nhà họp nhận người đưa tin, ghi giờ bất cứ cờ nào đổi màu. Cậu hỏi có cần sửa tiếp quai không. Anh đặt chiếc kìm trở lại trước mặt cậu, nói chưa xong phần học, lát nữa sẽ làm lại. Lời ấy vừa ra anh đã nghe giống một lời hẹn dễ bỏ. Anh nhờ Miên nhớ giúp, cô chỉ vào sổ Vân: cậu tự ghi được.
Cố Kính đứng ở bể thứ ba, một tay giữ nắp hộp đo khỏi gió. Dưới chân ông có hai tờ giấy, một tờ chấm mức, một tờ chỉ ghi tên ba người đã đổi lượt. Không ai trong ba người ấy đang ở đó.
— Tôi đi qua thấy trống nên chờ — ông nói.
An nhìn nút. Niêm chỉ còn nguyên, dòng vào ở mức từ tối trước. Cố chưa mở gì. Anh đặt túi xuống, hỏi người của ca đâu. Ông chỉ cánh đồng chân cao đang có người gặt. Sáng họ tới nhìn bể thấp, hẹn trưa quay lại vì cả nhà phải gặt trước đợt gió. Một người nhờ người khác coi hộ, người kia cũng có một khoảnh cần gặt. Lời nhờ đi hết ba nhà rồi quay về chỗ chẳng còn ai.
Miên đọc tờ ghi, hỏi ai đã nhận hẳn. Cố Kính bảo chưa có, ông không ký vì chỉ đang chờ người trực. An nghe được cả ý thận trọng lẫn điều ông muốn tránh: một chữ ký của ông lúc này dễ bị hiểu là lại giữ quyền cũ. Nhưng đứng ở đây không có giấy cũng khiến người đi qua tưởng bể đã có ca.
— Nếu nước lên ông sẽ làm gì? — An hỏi.
Cố Kính chỉ cờ dừng và đường sang bờ. Ông sẽ báo, không tự đổi nhánh. An gật, lấy dấu mức của mình đối với giấy. Bể thấp, nhưng đất ngay sau miệng trả ướt hơn vệt ngoài. Một tấm chắn lá bị kẹt, trả chậm từ trận mưa trước. Chưa nguy hiểm tới mức phải tháo, đủ để mức trong bể không còn kể hết việc xảy ra bên dưới.
An định cúi mở tấm chắn. Miên giữ túi chỉ của anh, hỏi người nhận phía dưới đâu. Anh nhìn về giá đèn trống, buông tay khỏi khóa. Sự bực bội làm anh lại muốn sửa ngay thứ trước mắt thay vì làm rõ đầu kia có ai.
Họ đánh dấu chỗ kẹt, kéo cờ trắng cao đúng mức chờ có người, để không lẫn với cái cờ buông thấp. Vân được người đưa tin gọi tới giữ bản ghi, còn An đi xuống đầu nhận. Miên đứng ở bể đo, Cố sang đường báo cho người ngoài đồng. Mất gần một khắc mới đủ ba chỗ. Khi An nhìn thấy dấu nhận, anh mới nới tấm chắn. Một búi lá sẫm trườn ra, lực trả hạ xuống thành vệt mỏng. Không có ai reo. Cái bể vẫn trông y như trước lúc họ tới.
Mẹ Vân đang bó lúa trên ruộng chân cao. Bà nhận ra chiếc áo cậu khoác trên vai An, hỏi con mình lại làm hỏng gì. An lắc đầu, đặt áo lên bờ khô. Cậu đã cho anh mượn lúc đi khỏi nhà họp vì nắng chói một phía cổ còn đau.
— Cháu hỏi chuyện giờ trực. Có phải ba nhà cùng gặt hôm nay?
— Không gặt hôm nay thì gió rũ ra đất. Chúng tôi không biết gió có đọc lịch nhà họp không.
An ngồi xuống đầu bó, giữ giúp sợi lạt. Ông nông dân làm bên cạnh nói họ đã trực suốt ba trận mưa, sáng nay chỉ vắng một lát. Anh không muốn kể lại búi lá như một chuyện suýt chết để thắng lý. Anh nói bể chưa tràn, Cố Kính đã đứng chờ, họ vừa làm sạch chỗ trả. Rồi hỏi một ca dài bốn giờ có hợp vào ngày gặt không.
Người nông dân cười, bảo giờ nào cũng không hợp nếu một nhà chỉ có hai người khỏe. Mẹ Vân vẫn phải đưa cậu đi chợ những buổi không học, em cậu chưa đủ sức nâng gánh. Bà đã đồng ý ba buổi, không đồng ý từ nay thiếu ai cũng gọi Vân. An nhìn lạt trong tay, nhận ra chính anh vừa gọi cậu ra giữ ghi ở bể dù buổi học chưa xong.
— Cháu đã dùng một phần giờ ấy — anh nói. — Cháu sẽ trả lại buổi học.
— Nó muốn học chứ không muốn nghe hẹn. Cháu nói với nó.
Bà nhấc bó đã buộc dở, hỏi những buổi cậu đi giữ đèn ngoài giờ có tính là học không. An đáp có học được, nhưng vừa nói đã thấy đó chưa phải câu bà hỏi. Cậu đã chạy tin thay người khác, chở thóc, giữ bản ghi để anh xuống nút. Nếu chỉ gọi tất cả là học, phần công ấy sẽ biến khỏi sổ mà vẫn làm cả nhà mất một người ngoài ruộng.
An lấy mẩu than trong túi, tìm chỗ ghi. Mẹ Vân đưa mặt sau mảnh gói cơm, yêu cầu đừng ghi số tiền anh chưa biết có trả nổi. Anh đếm lại từng buổi nhờ cậu sau đêm vá, đánh dấu những chỗ không chắc. Có buổi cậu tự tới xem, có buổi anh gọi. Anh sẽ hỏi Vân đối lại, ghi công riêng và bàn cách trả, không lấy thêm giờ dạy để bù cho mọi việc khác khi cậu còn cần gánh phụ mẹ.
Người nông dân bên cạnh hỏi vậy công người giữ đèn chưa từng theo học tính sao. An nhìn mảnh giấy nhỏ, viết thêm tên người hỏi, rồi ngừng vì không nhớ đủ những người đã đứng ngoài sân. Anh không thể biến một lời nhận sai thành một bảng đã đủ tên. Anh xin mang giấy tới nhà họp để từng nhóm báo lại phần còn thiếu. Mẹ Vân chỉ yêu cầu trước hết buổi chiều nay đừng gọi cậu ra bể một mình thêm. An nhờ bà tới lượt thử cùng cậu, nếu bà đồng ý đổi công ngoài ruộng; bà nhìn trời, gọi người bên cạnh giữ hộ chỗ lúa rồi mới nhận.
An buộc xong bó lúa, nút lạt xấu hơn cái nút anh dạy. Người nông dân kéo thử, lạt bung. Ông không giật lấy để làm ngay. Ông chỉ chỗ lá phải luồn hai lần, giữ bó cho An thử lại. Bàn tay còn cứng làm anh lâu hơn bình thường, nhưng ông vẫn giữ. Tới khi bó đứng được, An mới hiểu vì sao việc bên bàn quai chuông làm Vân rút tay nhanh thế.
Họ bàn ngay trên bờ, không đợi một buổi họp khác. Ngày gặt có thể đổi thành những lượt ngắn, một nhà ra nửa canh rồi về, nhà kế đi ngay khi có người nhận, không thả một lời nhờ qua ba cửa. Cần một người không gặt ở đoạn ấy giữ giấy giao lượt. Cố Kính có thể làm hai buổi có người cùng ký, không tự nhận cả tuần. Người nông dân bảo ông cũng có vai cần nghỉ, đi lại trên bờ cả ngày chẳng nhẹ hơn đứng guồng.
An thử gánh bó đã buộc ra mép. Một bước nghiêng làm bên tai trái lặng hẳn tiếng gió, anh mất thăng bằng và phải dừng. Mẹ Vân đỡ đầu gánh, chờ anh tìm chân rồi mới bỏ tay. Anh đặt bó xuống, nói mình không biết cách xếp giờ của mọi nhà. Bà đáp họ cũng chưa biết, nhưng chiều có thể đem bốn viên đá ra bể và thử bốn lượt, xem ai tới được thật.
Buổi chiều, người tới bể mang theo cơm gói, một cái liềm còn chưa lau và bốn viên đá có dấu than. Miên không vẽ lại cả lịch tháng. Cô chừa một tờ riêng cho hai ngày gặt trước mắt. Viên đá đặt ở đầu nào thì người giữ đầu ấy chưa được về; chỉ khi người nhận tới cầm nó, lượt mới đổi. Vân hỏi nếu trời tối không nhìn thấy dấu than. Mẹ cậu lấy miếng vải trắng buộc ngang viên của mình, bảo hai ngày này bà nhận được nó bằng tay.
Họ thử đủ một vòng. Lượt thứ hai chậm vì người tới còn phải đưa con về nhà, lượt thứ ba sớm quá lại đợi không chịu nổi. Miên gạch giờ ban đầu, đổi khoảng giữa. An không bảo kéo dài một chút ai cũng chịu được. Anh mang cơm của mình ra cùng người đang đợi, ngồi thấp để phía tai phải hướng về hai người, nhờ họ nhắc lại khi cãi chồng tiếng.
Vân định ghi lượt cuối là đã đủ trước khi người nhận cầm viên đá. An đưa tay muốn cầm bút sửa, rồi dừng. Anh hỏi cậu đang nhìn ai. Vân nhìn mấy người vừa đứng lên, nhận ra một người mới chỉ tới nhờ chở liềm, chưa nhận bể. Cậu gạch chữ mình, đợi mẹ bước tới cầm viên rồi mới viết. An để tay nằm trên gối cho tới khi nét cuối xong.
Khi bốn lượt thử hết, bể vẫn còn một quãng không ai giữ được sáng mai. Họ khoanh nó, chưa lấy tên An lấp vào. Một người trong xóm sẽ về hỏi chị gái làm buổi chợ chiều có đổi được không. Nếu không, họ giữ mức thấp từ tối nay, nhận ít nước hơn thay vì để đường mang lực không người theo. Cố Kính cùng người giữ sổ đi kiểm đầu nhận trước lúc hạ mức. An đứng sau, không được mời cũng không tự tới vặn nút.
Trời gần tối khi anh và Vân về nhà họp. Chiếc quai chuông vẫn nằm trên bàn. An lấy một quai khác, cố tình đặt lệch như cậu buổi sáng rồi ngồi đối diện. Anh bảo mình sẽ giữ tấm đồng, còn tay cậu làm.
Vân tháo lần đầu, sai. Cậu nhìn anh. An nhấc tay chỉ sang chiếc mẫu, hỏi dây sẽ quệt ở đâu. Cậu xoay quai, chạm mép lỗ, tháo ra lần nữa. Bên ngoài, một người gọi An đi ăn. Anh quay tai phải đáp lát nữa, không cầm lấy kìm.
Đến lần thứ ba, cờ lên thẳng. Vân kéo thử từ phía sau như điều đã ghi dưới mẫu. Quai cọ nhẹ, cậu tự hạ xuống, sửa thêm một chút. An ngồi đủ lâu để thấy một lỗi được tìm ra mà không cần tay mình sửa. Lúc hai người cất đồ, cơm đã nguội. Anh bưng bát ra hiên, chừa chỗ bên phải cho cậu ngồi kể lần cuối vì sao cái quai phải quay như thế.
Chương 10: Một chiếc gàu trả chậm
Quyển I — Bảy ngả nước