Chương 22: Bậc đá phủ muối
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 22 / 86

Chương 22: Bậc đá phủ muối

Khoảng 12 phút đọc

Quyển II — Dưới đồng muối

Bậc đá cũ trắng như vừa quét vôi. An cúi nhìn, thấy trong các hốc chân có lớp tinh thể lấp lánh, riêng mặt bậc trên cùng còn đen. Bác Kha gõ que vòng vải vào chỗ đen: hồi trước người ta đặt bình nước ở đây, về sau phải chuyển lên nữa. Trên bãi, một chiếc giếng có thể đầy thêm mà bậc người sống cạnh nó được dùng lại ít đi.

Thực đã ra thuyền bán muối từ sớm, nhờ mẹ dẫn họ qua đoạn bờ nhà mình. Bà mang theo chìa chốt và một cái nón rách đủ rộng che giấy Miên lúc cần. Bà hỏi ba người đi từ trên thung có còn nghĩ giếng đầy là tốt không. An đáp ở Hạ Ngạn từng nghĩ vậy là đủ. Bà cười ngắn, mở lối qua hàng giỏ rồi bảo họ đừng bước lên viên thứ ba, dưới chân ấy đã rỗng.

Vân đưa tay sắp thử, An chặn nhẹ, chỉ lối bác Kha vừa đi. Cậu đổi bước, ghi viên bậc phải tránh ngay ở đầu bản đường, không đợi tới khi vẽ xong hệ mạch mới nhớ con đường có người đi. Miên đo ở hai độ sâu; vệt nông sẫm, vệt sâu tách mỏng. Cô chưa dùng độ sẫm so thành lượng, chỉ ghi thứ tự và thời điểm để hôm sau đặt lại cùng chỗ.

Mẹ Thực nhìn các tờ, chỉ viên đá đen ở cao hơn. Cả nhà trước kia vẫn lấy được nước ngọt ở bậc ấy. An nhìn từ giếng ra ô muối, không hình dung nơi nào từng là ruộng. Bà dẫn tới một hàng cọc thấp phủ vải rách, bảo đó từng là hàng đậu, không phải ranh ô. Đầu mùa mất mưa bảy năm trước, họ mở đường cũ để giữ đất không chết hẳn. Một vụ qua được, đường mở ở lại, thửa đất đổi dần dưới chân những người vẫn sống tại đây.

Bà đặt nón xuống che tờ giấy của Miên, dùng hai bàn tay rảnh gạt cỏ quanh chân cọc. Trong đất có một miếng gỗ cũ, chưa đủ mục để mất lỗ buộc dây gàu. Trước kia họ kéo nước ở đây tưới hàng đậu chứ không gánh qua mấy ô muối. Vân đưa que giúp, bà chỉ nhặt phần đã rời, không đào quanh cọc vì nó còn giữ bờ. Một thứ cũ có thể nằm trong đất mà người dùng hôm nay vẫn cần nó đúng chỗ.

— Năm ấy mà biết sau này mặn thế này, bà có mở không? — An hỏi.

Bà cầm miếng gỗ, nhìn ra lạch nơi thuyền con mình đang đi. Bà nói không biết. Năm ấy còn một khoảnh giống, tiền không mua nổi nước, có người phải chọn gặt non để đổi bữa. Bây giờ ai hỏi cũng đứng cạnh ô muối bán được, dễ quên lúc kéo chốt họ chưa có ô ấy để sống. An nghe, không đưa một đáp án thay cho người vừa nói không biết về chính đời mình.

Miên hỏi có còn ai không muốn mở từ lúc đó. Bà gọi tên nhà bên, bảo người ấy giữ một dải đất tới giờ vẫn cố trồng rau. Chưa ai thắng trọn để người kia thành kẻ dại. Bà đề nghị khi họ muốn thử đường nào hãy mời cả nhà đó, đừng để chỉ người từng kéo chốt kể xong câu chuyện này. An ghi địa chỉ, trả que cho Vân, đứng lại chờ bà đặt miếng gỗ vào đúng mép cọc trước khi đi xuống.


Chốt nằm trong hộp gỗ dưới bậc cuối. Đồng xanh cặn, gỗ giữ ngoài đã được thay nhiều lần. An nhận ngay một lỗ ghim cũ bị khoét rộng, khác kiểu trạm Bạch Đài, đơn giản tới mức ai có đục cũng có thể làm. Mẹ Thực bảo bà cùng hai nhà kéo nó lên đêm ruộng nứt. Không có người bí mật lấy nguồn của ai; ai đứng trên bờ cũng thấy, ai còn gạo thì cho người kéo ăn, để sáng ra những rễ đậu cuối còn sống.

Miên hỏi lúc ấy nguồn từ phía nào vào. Bà chỉ lên bãi, rồi ngừng, đổi sang lạch: còn tùy kỳ, đêm ấy bác Kha giữ dấu. Bác lấy que ra, vòng vải của bảy năm trước không còn, chỉ có nét khắc sau lần sửa. Bác nhớ gió, nhớ chân bậc còn ngập tới đâu, không thể hứa giờ đó bằng giờ hôm nay. Cô chép những điều nhớ được riêng với mức đang đo, không dùng một ký ức rất rõ để điền số chưa ai giữ.

An sờ nhẹ mặt ngoài hộp, cảm một rung dài dưới cặn. Ông giữ giếng ngăn không cho chạm chốt khi chưa có người ở nhánh bên. Hai nhà chung bờ đã nhận tới cuối buổi, hiện một nhà đang kéo hàng dưới lạch. An chờ, mở hộp dụng cụ trên đất cao và kiểm mẫu gốm lấy từ lò. Đầu vào của lần thử hôm qua chưa hoàn toàn tối, anh giữ nó riêng, dùng một mảnh đối chưa chạm nước bãi.

Trong khi đợi, mẹ Thực đưa họ xem khoảnh còn trồng rau được ở phía trong. Không lớn hơn sân nhà họp, đất sẫm giữa những ô trắng. Nước chở từ thuyền một phần dành cho bình uống, một phần giữ giống ở đó, không phải nhà nào cũng có tiền làm. Vân hỏi sao không chuyển hết sang muối. Bà nhổ một cây cỏ, chỉ rễ mọc ngay mép luống, bảo muối bán còn phải đổi lấy gạo; có năm thuyền không vào, cái để ăn vẫn cần có ở gần.

An nhìn những đoạn dây trả từ vườn nhỏ sang bờ, thấy người ở đây cũng đã học nối, đã sửa và đã chọn. Anh không tới một vùng đất đứng yên chờ mình giỏi hơn. Bà xin đừng vì cứu giếng mà đóng cả đường làm những ô đang bán được mất lượt nước, cũng đừng vì giữ ô mà coi một bình người ta phải mua mỗi sáng là chuyện đã quen nên không cần tính.


Hai người chung bờ tới gần trưa. Một người mang giỏ lưới, một người còn buộc dây hàng trên vai. Họ đứng được ở hai đầu trong một lượt ngắn, chưa thể bỏ cả buổi chợ. Bác Kha đọc nhịp trước khi mặt lạch đổi, Miên chấm hai dấu, An đặt miếng gốm bắt lực sát đoạn đã lộ, không chôn. Vân giữ hộp mẫu ở cao, ghi cả khoảng người tới muộn để giờ không tự biến thành khác kỳ.

Họ chỉ hạ chốt một phần nhỏ, đủ thay dòng cho mẫu nhận thấy mà không đóng ngang bờ. Lực ở giếng ngừng kéo ra một chút, vệt sâu của Miên đổi. An cảm thấy bờ phía ô nhà Thực căng hơn qua thanh gỗ; ở đó dòng không có phần trả như lúc chốt mở. Người giữ đầu ấy giơ tay, báo mép rãnh rịn sáng. An trả chốt về vị trí cũ ngay, không đợi thấy giếng có lợi tới đâu rồi mới nghe đầu còn lại.

Ánh rịn lắng xuống, nước mặt chưa đổi bao nhiêu. Mẹ Thực hỏi nếu hạ thêm sẽ trả ngọt được giếng không. An chỉ báo việc vừa đo: giảm nhánh này làm bờ kia nhận thêm, chưa biết hết mức, không có quyền thử mạnh hơn trong một lượt ngắn người khác đã nhận. Người mang lưới bảo thấy giếng sắp được thì lại ngừng. Bác Kha đưa ông đứng đúng chỗ bờ rịn, cho nhìn cặn mới ở một khe vốn đã yếu.

An đặt miếng gốm lên vải, thấy một cạnh trắng mỏng hơn bên kia sau lượt ngắn. Không thể nối bằng cùng mặt kê, rồi hy vọng muối ở cạnh khác chỉ là vết xấu. Anh nhờ người mang lưới giữ một mảnh cặn nguyên, xin phép lấy đúng phần đã rời, không đục sâu vào bờ. Người ấy giúp gói, hỏi nếu cần bể phụ thì ai mất đất đặt. Câu hỏi tới trước khi An kịp đề nghị, ngắn và rất cụ thể.

Miên vẽ chỗ bồn đất cũ cạnh nhà lò có thể dùng làm mẫu tách khỏi giếng. Nó không là lời xin lấy ô muối. Họ cần thử vật liệu đủ một kỳ, biết mức nhả và cách đọc mực trước khi đem một bể lớn vào bản. Hai người chung bờ nhận sẽ xem lượt mẫu, chưa nhận công trình. Họ trả chốt cũ, dùng khóa nhà giữ, đối lại vị trí cho mẹ Thực trước khi rời.

Trên bậc cao, Vân gõ nhẹ đôi dép để rơi cặn trắng. Một mảnh rơi xuống bậc, gió thổi vào khe đá, trông như thứ đã ở đó lâu. Cậu xin miếng vải gói lại thay vì nhập vào lọ cặn mới lấy. An đưa, nhớ mẻ nước ở thuyền, giỏ hàng, mọi nguồn nhìn qua đều chung một lớp trắng. Ở đây một lối dẫn dư có thể nằm trong cặn mang theo, không nhất thiết có người đục thêm rãnh dưới nền nhà.


Về lò, họ đặt ba mẫu cùng chỗ khô: gốm chưa chạm, gốm đã nhận nước nguồn, gốm vừa thử ở chốt. Nghiêu nhìn cạnh trắng, nhặt mảnh cũ có hạt chen từ kho, đặt bên cạnh chứ chưa gọi giống. Thoa giữ thẻ từng chiếc, yêu cầu ai muốn rửa cũng phải để một phần nguyên. Nhà lò đã đập quá nhiều vòng tưởng cùng hỏng, giờ cần nhìn được cái khác trước khi dọn kho cho gọn.

Miên đề nghị làm lại một mẻ mực chuẩn đối với mẫu nước sạch rồi mới thử phần giếng. Phần việc ấy cần giấy còn khô, mà hộp đi từ bến có hai góc ẩm. Cô chia phần có thể dùng quan sát với phần dùng đối số, không tiếc tới mức để tất cả cùng gọi là giấy mới. An nhận tìm một chỗ đặt mẫu gốm có cả đường vào lẫn đường trả đổi được theo kỳ, sẽ nhờ Nghiêu xem trước khi dùng đồng.

Nghiêu đồng ý thử, nhưng không còn đủ vòng cũ cùng mẻ cho nhiều lượt. Họ sẽ phải nung thêm loại đơn giản, để đủ ngày nghỉ rồi mới xem. An nhìn giờ thuyền chuyến mới treo ngoài cửa, muốn hỏi có thể làm nhanh một ít không. Ông chỉ hai mảnh mở lò sớm đã tách hôm trước, không cần nói lại. Anh xếp mẫu, nhận thời gian thật vào kế hoạch, nghe câu chờ nguội như một phần việc chứ không phải đứng không.

Thực trở về lúc xế, tiền bán hàng được bọc riêng, bao chưa bán mang lại đủ. Mẹ anh đưa xem bản chốt thử và lời hẹn mẫu. Anh hỏi có phải cuối cùng phải đóng đường cứu ruộng bảy năm trước không. An đáp chưa tới chỗ quyết, nhưng nếu chỉ ép nhánh mặn lại ngay thì một phía khác chịu thêm. Mở ngày ấy đã cứu được một vụ; giữ mãi cùng cách qua những năm đất đổi có thể cần sửa, không khiến việc người nhà anh từng làm thành một điều đáng giấu.

Thực ngồi xuống giữa mẹ và người giữ giếng, kể lượt thuyền hôm nay phải chở nước tới giá nào. Người giữ giếng nói giá rẻ hơn nữa thì cũng phải mua mãi nếu không tìm nguồn giữ được. An nghe, không dùng tiền tháng này tự quyết thay phần đất cả đời người khác. Anh đưa hộp mẫu để Thực nhìn mức họ đang biết: chưa có bể làm được, chưa có giấy đủ đối, có một chốt hạ khiến bờ kia căng.

Khi mọi người về, mẹ Thực để chiếc chìa chốt trong hộp nhà lò qua đêm, rồi quay lại lấy ngay. Bà cười vì đã quen có thợ giỏi đến là muốn giao hết thứ mình lo. An đưa tận tay, nhờ mai bà hoặc người nhận giữ mang tới nếu cần mở. Nhà lò giữ mẫu; người sống cạnh bờ vẫn giữ chốt. Hai việc ấy chưa từng phải đổi chủ chỉ vì một chữ thuê.

Đèn lò lên, chiếc vò méo ở góc đã tối hẳn. An ngồi cùng Nghiêu chọn đất cho mẻ mẫu ngày mai, không chạm chìa nào ngoài chiếc hộp dụng cụ của mình. Ngoài đường, mẹ con Thực đi về phía các bậc đá trắng, dừng lại xem lối một lần trước khi xuống. Một vụ được cứu đã ở lại trong đất lâu hơn lời người mở chốt từng nghĩ; muốn sửa, họ phải nhìn cả phần đã sống được lẫn phần đang chậm đổi dưới chân.

Trang sách tiếp theo

Chương 23: Tay giữ lò

Quyển II — Dưới đồng muối

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!