Chương 20: Nghiêu và chiếc vò méo
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 20 / 86

Chương 20: Nghiêu và chiếc vò méo

Khoảng 12 phút đọc

Quyển II — Dưới đồng muối

Chiếc vò méo được nhấc khỏi chân ghế bằng ba người. Thoa, người đưa xuồng hôm trước, giữ lưng ghế; Vân luồn hòn đá thay chân, An đỡ vò cho tới khi thanh kê ra khỏi vai. Nghiêu đứng nhìn rồi hỏi có phải trên thung lấy một đồ dưới chân cũng cần đủ tổ. An đáp ít hơn ba người thì có thể phải sửa cả cái ghế và người đang ngồi. Ông cười, đưa chậu nước để họ rửa cặn ngoài vò.

Miệng vò nghiêng, một phía thành dày hơn, dưới đáy có lớp sáng đục như vảy. An gõ từng phía bằng cùng lực. Tai phải nhận âm gần nhau, tay qua thanh gỗ lại thấy bên dày giữ rung lâu. Nghiêu chỉ chỗ vết gấp trong thành, bảo vò bị méo từ lúc đất chưa đủ nghỉ đã đem lên bàn. Ông đã nung vì tưởng còn dùng chứa nước được, sau mới biết dòng trong thành cũng chạy lệch.

— Vậy sao không đập? — Vân hỏi.

— Ghế này cần một chân. Nó làm được chân thì chưa phải bỏ.

Nghiêu mở kho mẫu. Có vò đẹp, vò méo, vòng kê thô và những mảnh được giữ riêng theo ngày. Vân chỉ chiếc vò tròn có nét khắc quanh miệng, hỏi có phải mẫu tốt nhất không. Ông đưa một mảnh từ chiếc đẹp tương tự đã vỡ: lớp trong bở, chỉ mặt ngoài được sửa. An nhìn thứ mình vốn muốn chọn ở chợ, hiểu âm trong chưa chắc là thành đều.

Thoa đặt ba mảnh lên vải. Chị làm việc giao hàng và chuẩn bị đất, biết mẻ nào dùng đất bãi cũ, mẻ nào phải mua từ thuyền. Nghiêu nói các vòng gần đây chỉ nứt sau đặt xuống Cồn Sậy. Chị rút một mảnh, nhắc nó đã rạn trên giá trước khi ra khỏi lò. Ông gọi gộp là một lượt hỏng, chị giữ nguyên thẻ ngày. An xin xem riêng mảnh ấy trước, không muốn cả kho bị buộc có cùng một nguyên nhân chỉ vì mọi người đang chờ chuyện muối.


Mảnh rạn trên giá có mép nguội khác phần nứt ngoài đất. Nghiêu cầm lên, một lúc mới nói hôm ấy ông đã mở cửa lò sớm vì thuyền đợi. An không biết nung tới đâu gọi là sớm, chỉ ghi lời người đã giữ lửa. Chị Thoa đưa phiếu chuyến, thời gian khớp. Một lỗi ở lò và một lỗi dưới bãi có thể cùng khiến gốm vỡ, không cần bắt cái nào nói thay mọi chiếc.

Họ chọn các vòng từ mẻ đã nằm kho đủ lâu, từng được thử ở nguồn nước phía trên. Nghiêu không cho khoan ngay lỗ mà An định nối đồng. Gốm đã nung có thớ khác gỗ, khoan sát mép làm rạn lan dù chưa thấy. Ông chọn chỗ có vành dày, kẹp mẫu bằng hai miếng kê rồi mới cho An thử một lỗ trên mảnh bỏ. Mũi đầu đi lệch, An rút ra, chấp nhận để Nghiêu chỉ từ cách giữ cán.

Trong lúc chờ hai vòng mẫu được lau, Vân tới bàn đất. Chị Thoa nhờ cậu nhào phần dùng vá chân lò, không phải đất lên sản phẩm. Cậu ép mạnh như buộc dây gánh, khối đất dính chặt vào mặt bàn. Nghiêu lấy một phần khác, làm chậm cho cậu nhìn. Giữ được hình không phải siết chỗ nào cũng ngang nhau; tay phải để đất có chỗ trở về dưới tay còn lại.

An thấy Vân bỏ quên tờ ghi, gọi cậu tới giữ mẫu. Giọng anh gắt hơn việc cần. Cậu lau tay, đi ngay, nhưng vẫn ngoái nhìn khối đất dở. Anh định nhắc đã nhận công thì đừng mải đồ lạ, rồi nhớ cậu chỉ nhào vì Thoa vừa nhờ trong lúc mình đợi. Anh giao phần ghi tới giờ đã hẹn, báo sau đó nếu muốn học đất phải hỏi riêng người dạy và tính lại việc, không giữ cậu bên hộp bằng một nỗi bực không tên.

Miên đi đo giếng với người giữ, gửi về hai tờ chưa đủ một chu kỳ. An không đem chúng dùng làm kết luận cho mẫu. Họ đặt một vòng vào chậu nước chở từ nguồn, vòng khác nhận phần giếng dưới bãi, miếng thứ ba để khô. Dụng cụ dẫn đều bắt đầu ở cùng mức thấp. Nghiêu nhìn ba chậu, hỏi có cần thêm một chiếc vò méo để thấy lực vòng trong thành thế nào. An lấy chính chiếc đang lau, đã có hòn đá thay ghế, đặt riêng làm mẫu hình khác.


Vòng trong nước nguồn nhả lực về theo đường chỉ như mẫu ở Hạ Ngạn. Vòng nhận nước giếng chậm hơn, mép trong có ánh mỏng giữ lại. Nghiêu nghiêng để An nhìn rõ, bị Thoa nhắc không đổi tư thế khi hai người còn đối thời gian. Ông đặt lại, chờ hết lượt. Tay ông quen sửa đồ ngay lúc thấy xấu; cái quen ấy cũng có thể làm mất một lần thử tốt.

Chiếc vò méo giữ lệch về phía thành dày. An áp thanh đồng ngoài mặt, nhờ Vân nhìn đường sáng đi hết một vòng. Có đoạn lắng, có đoạn chạy tiếp như một giọt nặng trượt dưới lớp men. Anh tính thêm một nhánh trả ở phía ấy, nối ra bể nhỏ ngoài chậu. Nghiêu đồng ý thử trên vành vốn đã hỏng, không khoan thêm vào các vòng tốt.

An đặt miếng đồng vừa giũa sát lớp cặn ẩm. Khi chạm đầu chỉ, nó nóng nhanh hơn anh chờ. Ánh xanh không đi hết đường trả, tỏa theo cặn ướt sang miếng kẹp. Anh hạ đầu vào, gỡ chỉ khỏi chỗ mới bằng cán, không dùng tay lột đồng. Vân kéo cờ dừng trên giá nhỏ, Thoa lùi người khỏi mặt bàn còn Nghiêu giữ chậu không cho nghiêng về chân họ. Mẫu lắng, mùi nóng của kim loại còn trong phòng.

Đồng quen của An đã tạo thêm một lối anh không tính qua lớp ẩm. Anh nhìn chỗ mình chọn, nói chưa thử riêng đồng gặp phần nước này, đã đem cách dưới thung đặt lên mẫu mới. Nghiêu chẳng cần cười. Ông cũng vừa tưởng chỉ nghiêng một chiếc là không đổi mấy việc. Họ để chỗ nóng nguội, lấy mảnh có cặn đối với mảnh đã rửa bằng nước nguồn, chưa vội lau tất cả cho bàn sạch rồi quên vì sao.

Miên về kịp thấy các chậu đứng. Cô yêu cầu giữ nguyên nhãn nước, hỏi đồng nóng ở đầu nhận hay đầu trả. An chỉ đủ lượt, Vân đưa giờ. Cô lấy tờ đã đo ở giếng so phần nhạt, thấy chưa thể dùng mức mực ấy làm lượng lực giữ trong gốm: muối có thể đổi cách mực chạy, mẫu của cô cũng đang cần đối. Nghiêu thở ra, bảo nếu người đọc giấy cũng chưa biết thì hôm nay còn biết được gì.

Miên chỉ vòng nước nguồn đã nhả và vòng nước giếng còn giữ. Ít nhất hai mẫu cùng mẻ gốm, cùng cách đặt, có khác thật ở điều kiện; không thể bảo toàn bộ vì thợ nung kém hoặc giấy hết mực. An ghi giới hạn của mình bên cạnh. Những điều nhỏ ấy chưa trả nước ngọt, nhưng đủ để buổi sau không đốt thêm lửa hoặc đắp thêm đồng theo một lời đoán.


Họ tháo các đầu vào, chờ đường trả theo dõi hết rồi mới dời vòng khỏi nước. Vòng nước giếng còn giữ ánh lâu, Nghiêu đề nghị để qua đêm trên bệ riêng. Thoa kéo giá có rãnh khô tới, chia ô đủ để không chiếc nào chạm chiếc nào. Vân chỉ khe giá, bảo giống chỗ bụng chỉ ở bờ ruộng cần chừa, nhờ người khác kiểm khe dưới đáy trước khi đặt. An không gõ để ép ánh cuối ra nhanh cho tới giờ ăn.

Chiếc vò méo không về làm chân ghế ngay. Nghiêu lấy viên đá Vân kê, thử ghế bằng chính sức mình rồi chỉnh lại, nhận có lúc đồ cần được giữ làm mẫu thay vì phục vụ một việc tiện trước mắt. An hỏi nhà lò tính giá chiếc vò thế nào nếu thử làm nó vỡ. Ông bảo vốn là đồ đã loại khỏi hàng bán, vẫn có công và dùng được, sẽ ghi giá mẫu chứ không tặng để mai thiếu ai đó phải tự nung bù.

Vân xin học nhào đất sau bữa, đã ghi xong phần công và không còn lượt giữ mẫu có lực. Nghiêu nhìn đồng hồ nước bên lò, còn đúng khoảng chờ cửa nguội. Ông nhận một lượt ngắn, yêu cầu mai cậu không tự lấy đất tốt thử khi không có người đứng. Cậu gật, đem khối đất vá chân trở lại bàn. An đứng bên, thấy cậu nghe lời người khác với vẻ chăm chú anh từng tưởng chỉ phần nghề mình mới có.

Thoa đưa An một thanh gỗ kê lỗ. Chị hỏi có phải dưới thung ai cũng biết nghe đồng như anh. Anh đáp không, rồi sửa rằng chính mình cũng có nhiều lúc không nghe đủ. Chị đặt hai miếng gốm khác nhau trước mặt, nhờ thử theo cách anh đang có để ghi cái nào không phân biệt được. Không có lời an ủi, chỉ có một người làm nghề muốn biết dụng cụ mình gồm cả phần giới hạn nào.

An đặt tay, nhận một rung rõ và một rung lẫn. Anh nhờ chị gõ lại cùng lực, ghi vòng thứ hai chưa đủ phân. Chị cất cả hai vào ô đã đánh dấu, không đổi vòng cho tới khi anh chọn đúng rồi bảo thế là giỏi. Ở bàn bên, khối đất Vân nặn lại méo, Nghiêu đưa cậu nhìn đường thành dày mỏng trước khi cắt bỏ. Họ có đủ vật không đạt để hiểu một ngày đã làm, chẳng cần đặt một chiến thắng vào giữa.

Tới chiều, người giữ giếng ghé, xem các mẫu còn sáng mỏng. Ông muốn mai đem một vòng mới đặt ngay dưới giếng để thử nhiều hơn. An xin chờ xem vòng đêm nay nhả hết vào lúc nào, Miên cũng cần đủ lượt mực qua kỳ đổi dòng. Nghiêu tự nhắc phần nhà lò đã nhận là khảo sát, không phải lắp trước cho dân thấy việc đang tiến. Ông nói với khách, không để người từ xa chịu hết câu từ chối.

Khi lò nguội đủ để đóng cửa ngoài, Nghiêu gõ lên ghế đã kê đá, nghe chắc rồi ngồi ăn. An ngồi phía thấy mặt mọi người, chừa đường để Vân đem mẫu đất tới khoe rồi tự cắt nó cho biết thành trong. Chiếc vò méo nằm trên giá ở góc, ánh giữ lại còn chưa tắt. Đêm đầu theo dõi mẫu sẽ phải có người ghi lúc nó tắt thật; An nhận lượt sớm, người nhà lò nhận lượt sau, và hộp giấy Miên được để khô ở bàn khác.


Đèn bàn được che một phía để ánh không làm mất dấu sáng rất yếu trong thành gốm. An đặt ghế ở chỗ không chắn lối giá, giữ que gỗ trên đầu gối, không chạm mẫu trong lúc đếm. Vòng nước nguồn đã tối hẳn. Hai chiếc nhận phần giếng vẫn khác nhau, một chiếc còn vệt mảnh, chiếc vò méo giữ nguyên một đốm ở phía dày. Anh ghi từng ô, rồi nhìn lại từ góc khác để chắc không phải đèn phản trên men.

Thoa tới nhận lượt cùng một bát nước, đặt ở bàn riêng. Chị đọc bản An, hỏi chữ nhạt dần thuộc nhìn thấy hay tay cảm. Anh chỉ ra chưa chạm; lời ghi của mình đang thiếu phần ấy. Chị thêm một cột bằng nét riêng, không sửa thành anh đã thử rồi. Ngày mai người nhìn mẫu có thể tin một chữ quá dễ nếu không biết nó được có bằng cách nào.

Chị kể mấy vòng giữ ánh lâu nhất thường cũng là những chiếc người đặt kêu đã nứt sau khi chôn. Nhưng có mẻ ở kho lâu vẫn nguyên. An ghi mối liên hệ chưa rõ, xin chị chọn cả chiếc nguyên cho buổi đối. Chị gật, đọc lại giờ nhận để anh rời bàn. Anh muốn chờ đốm trên vò tắt, rồi nhận ra mình đang kéo lượt của người khác dài thêm. Anh giao que, mang bản khô về phòng. Ở góc giá, chiếc vò được giữ trong mắt người đã thức đúng ca, không trong một lời hẹn người khách sẽ ngồi nổi tới sáng.

Trang sách tiếp theo

Chương 21: Chỗ nước quay đầu

Quyển II — Dưới đồng muối

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!