Chương 40: Bùn giữ một hơi
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 40 / 86

Chương 40: Bùn giữ một hơi

Khoảng 12 phút đọc

Quyển III — Mùa bùn thức dậy

Hào mang cuốc tới rồi đứng đợi một người phụ nữ từ phía ruộng. Chị Yến cùng giữ góc đất được chọn, chân còn dính bùn từ hàng lúa vừa dặm. Chị ngồi xuống xem mốc, yêu cầu lấy từ mép trống, để lại một khoảnh bên cạnh chưa chạm cho mình xem sau mưa. An dời lọ khỏi chỗ thuận tay ngay dưới chân lúa, cắm que ở rìa hai người đã nhận. Vân ghi hình góc đất, làm dấu phần còn nguyên trước khi cuốc xuống.

Lớp trên bong ra từng mảnh, có cọng rễ đã khô ở một đầu. Dưới đó đất đổi sang đen bóng, tay cuốc phải nhấc nhẹ vì bùn bám. Miên để ba phần trên ba tấm sạch, chừa một chỗ để đối mẫu ngoài bãi sẽ lấy cùng độ sâu. An nhấc đầu gốm đã đối lên phần mép, nhận rung giữ ở tầng dưới lâu hơn mặt, giống câu hỏi chiều qua nhưng nay có từng lớp và giờ lấy.

— Mặt này từ mấy ngày rồi? — anh hỏi Yến.

— Từ lượt mưa nhỏ. Khô bên trên mau, bên dưới đi vẫn dính chân. Anh định cho nước tới khi nhìn thấy hết khô à?

Anh nhìn những kẽ nứt, nhớ bản lối trả ở Cồn Sậy chạy thấp đều theo từng giờ. Ở đây nếu đầu vào cứ kéo dài cho tới lúc mặt đổi màu, tầng dưới đã nhận trước rất lâu. Miên lấy phần bùn chưa thử giữ riêng, nhờ Yến chỉ dấu đất thường dùng để nhận biết khi nào có thể xuống dặm. Chị lấy một nhúm bóp nhẹ, mở tay cho xem mặt còn bóng nước trong lòng, yêu cầu họ đừng chỉ mang về phần trên dễ xúc.

Hào kê cuốc ngoài rãnh, hỏi lần mưa lớn gần nhất có thể lấy làm một lượt đối không. Yến nhớ chỗ nước từng đứng trên cọc bờ, người bên ruộng còn giữ ngày dặm sau đó. Miên ghi tên để hỏi, chừa giờ chưa chắc, mang mẫu về trước lúc nắng làm ba mặt khô khác nhau. An trả lại đất đã nhấc ngoài phần cần mẫu, cùng Hào đầm mép lỗ để chân người sau khỏi trượt vào.


Ở bãi ngoài, Trầm nhận đúng giờ trước ca cắt. Chị dẫn tới khoảng xanh và khoảng gốc tối, lấy phần rời được phép, chừa chân đứng cho cả ba người. Mặt bùn ở đó mềm hơn sau kè, bên dưới một tầng lại có sợi cây cũ lẫn đặc. An tì cùng mặt gốm theo lượt, thấy mỗi chỗ có độ trễ khác. Anh đổi cặp đối cho Miên đọc riêng, đứng nghe tiếng gió để khỏi tự đếm nhịp đất theo nhịp lau.

Một giọt nước nổi lên ở cạnh chỗ anh vừa ép. Vân nhìn giấy, nói phần sâu đang nhả. Miên đưa tờ cùng mẫu lót, dấu chưa trở; có thể chỉ là nước bị lực tay đẩy lên. An giữ yên gốm, cho giọt đi qua trước khi nhận lượt mới. Trầm bới một chút ở phần đất rời cạnh bên bằng đầu cán, nước cũng xuất hiện, giúp họ tách việc vừa chạm khỏi điều đất tự làm.

— Bùn không thích bị hỏi bằng cả cánh tay — chị nói, rũ đất khỏi cán.

An cười, nới lực tay, chọn chỉ kê đầu nhận trên mặt như lúc đối. Khoảng giữ vẫn còn, chậm hơn bên ruộng ở một phần, không phải một tiếng từ một chỗ biết thay cả đầm. Họ ghi từng mẫu, giữ một lọ có nắp rỗng để đối điều có thể theo chính chiếc lọ vào. Trầm xem tên ngoài vải, nhờ ghi nơi cắt bằng tên người ở đây gọi, rồi mới ghi cách nhóm chia tầng.

Chị còn phải cắt đủ bó đã hẹn. An cùng Vân giữ những thân chị đưa, xếp đúng chiều trước khi rời bãi; số mẫu đủ trong một giỏ nhỏ. Miên mang về trước để đặt vào bệ thử ở nền cứng ngoài chòi, tránh bếp và sàn gỗ vừa kê. Hào đã nhận cho dùng một khoảng bờ cao gần kho, nhóm phải tự đem đồ tới và dọn sạch sau, lấy nước rửa về thùng riêng.

An nhìn hàng lọ bùn, hỏi Vân mình sẽ thử điều gì trước. Cậu đáp xem bên nào nhả nhanh. Anh đưa thêm một tờ trắng, nhờ cậu ghi cả thứ phải giữ giống nhau nếu muốn câu trả lời dùng được: cùng phần đất, cùng lượng nhận, cùng đường trả và giờ bắt đầu. Cậu ghi chậm, khoanh chỗ lượng nhận vì dụng cụ của họ chỉ đối trong một dải, chưa có con số tuyệt đối cho mọi loại bùn.


Bệ thử là hai khay gốm nông Hào cho mượn, có đường trả riêng về một thùng đá đủ chỗ. An kê bằng gỗ thường trên nền đã dò, không lấy sàn chòi làm nơi nhận lực. Miên chia một phần bùn thành hai lượng đong cùng dấu, giữ độ dày mặt gần nhau. Vân nhận đồng hồ nước, Thoa không có ở đây để nhìn chân gốm hộ họ; An phải tự đọc thẻ từng khay và nhờ chủ khay nói rõ mẻ nào từng bị rạn.

Lượt đầu nhận đều ở mức yếu. Mặt bùn gần lối vào sẫm, một cạnh giữ ánh lâu sau khi đầu chỉ đã hạ. Phần nước trên mặt mới có ở chỗ trũng, bên dưới dấu của Miên vẫn kéo dài, đường trả nhả từng quãng nhỏ. An đợi tới nền đã đối, để cả khay nghỉ rồi mới chuyển. Anh gạch thời gian nhận lên tờ, không lắp mẫu bên kia ngay vì mình muốn có hai kết quả trong cùng một buổi.

Lượt thứ hai dùng phần bùn cùng mẫu, đầu nhận giữ đúng mức nhưng chia các quãng, giữa có giờ cho đường trả nhả. Tổng giờ có lực được giữ bằng nhau trong khoảng họ làm được, khác ở phần nghỉ. Vân đếm cùng đồng hồ, một lần cậu định ngừng theo số hơi mình đã quen, An chỉ dòng nước trong bầu. Cậu nhìn lại, đọc thời điểm cho cả hai nghe rồi mới chuyển dấu.

Đến lúc chuyển tờ, cậu nhận mình chưa đánh nét đầu của quãng vừa rồi, chỉ nhớ đã báo theo mặt nước. An đang giữ đầu chỉ, vai mỏi, bật ra một câu hỏi sao giao có một việc vẫn thiếu. Vân cúi xuống quá nhanh. Miên yêu cầu An nhìn tay mình, cho hạ về mức chờ rồi mới hỏi phần giờ. Anh làm, nghe tiếng gốm nhả hết, cổ còn căng vì chính câu đã nói. Họ giữ lượt ấy riêng, không ghép một giờ nhớ thành tổng chính xác. An nhận phải lấy mẫu khác làm lại sau khi nền yên, tự giữ một phần công chờ phát sinh trong khoản mình nhận.

Lúc chuyển ca, anh đưa cậu tờ trống, nói mình đã gắt quá. Vân đáp vẫn cần ghi đủ, cầm bút nắn mấy nét rất thẳng. An muốn nói thêm nhưng Miên đang gọi giờ trả, anh quay lại nhận việc trước. Mẫu kế được đặt khi đủ nghỉ, một người đọc bầu nước và một người đánh dòng cùng lượt, mỗi lần chuyển đều đọc lại từ chỗ bắt đầu. Vân nhận đứng ghi, trả lời rõ hơn, chỉ có khi An quay nhìn thì tay cậu dừng một thoáng trên giấy.

Ở quãng thứ ba, một tiếng bụp nhỏ nổi dưới khay. Một bọt khí xé mặt bóng rồi vỡ, nước thấm theo một rãnh cũ trong mẫu. An suýt mở thêm để giữ mặt ấy ướt, Miên đặt tay lên que ngang dấu dừng. Dưới đất còn trả, mặt gốm chưa tới giờ nhận tiếp. Anh giữ đầu vào thấp, nhìn những hạt bùn tự lắng xuống ở mép, thấy rãnh mặt dần hiện rõ hơn trong khoảng chờ.

— Nếu cứ đẩy, phần đang trả sẽ đi đâu? — cô hỏi.

Anh chỉ phần trũng ở cạnh, nơi lượt đều đã giữ lâu. Họ chờ qua một quãng nữa, sau đó mới cho quãng kế bắt đầu. Đến khi hết số giờ nhận, mặt chưa ướt hết bằng lượt đều, dấu giữ sâu lại bớt dồn. Thùng nhận có lượng nhả khác theo thời gian, không có thêm lực nào vì họ biết chia nhịp. Phần một khay giữ phải đi ra qua lối đã có hoặc còn nằm đó, cả hai đều được ghi.

Hào ngồi ở mép bệ, xem một hồi rồi hỏi liệu những quãng nghỉ có giống lúc dân chờ nước tràn rút trước khi xuống dặm không. Miên xin để đó là câu đối ngoài đất, chưa kết luận từ khay nhỏ tới cả ruộng. An muốn đổi cách thử lên hai phần khác nguồn để xem kiểu ấy giữ ở bãi và ruộng ra sao, phải chờ ngày sau các khay về nền mới. Họ nhận chờ, ghi đúng điều còn cần cùng tờ vừa có kết quả.


Ngày kế họ lặp với mẫu ngoài và mẫu trong riêng, giữ một phần không thử để so sau. Một mặt có rễ trả khác mặt bùn đặc, lượt nghỉ cần dài hơn. Có lượt nhìn giống nhau trong dải thước, An viết chưa tách được thay vì kéo ngón cho cảm thấy đủ một kết quả. Yến tới xem sau giờ dặm, đặt nhúm đất chưa bị đào từ khoảnh để lại cạnh mẫu, cùng Miên so phần mất nước vì nằm trong khay.

Trầm đứng bên, hỏi nếu đầm cần vào rồi rút, một đường cấp đều chạy suốt ngày có làm nó sống lại không. An nhìn mặt khay đã bị dòng đều giữ tối ở một cạnh, trả lời điều họ vừa thử chưa ủng hộ cách ấy. Họ cần xem một nhịp tràn có lúc dừng, để bùn nhận rồi nhả trong sức chứa của từng nơi, cùng đường nước thật và lối cá ngoài. Từ việc ấy tới cắt một cửa trên kè vẫn còn mấy chân nhà chưa được xem.

Hào nhặt cọc nhỏ vẽ một cửa mở bằng tay, hỏi liệu dân có thể đóng khi phần đất chưa trả xong không. An giữ cọc, chỉ cần có đường giảm nhận và đường trả riêng, đóng cả hai cùng lúc lại dồn phần giữ vào bờ. Họ vẽ hai động tác tách, mỗi động tác có người nhìn phía nhận. Yến lấy một vạch cắt ngang bản, đề nghị đặt chỗ người đứng cao đủ trong đêm mưa, vì đóng đúng mà chân đứng trôi thì chẳng ai làm nổi lần thứ hai.

Miên chép một bản điều cần đo ngoài: độ trễ theo nơi, mức trước từng nhà, thời gian dời người với đồ, lượng qua không làm cá rời cả nhánh. Chưa có con số mở toàn mùa. Vân xin nhận một điểm gần mũi bùn để giữ giờ cùng cô, An nhận cho cậu ca có người nhìn lại, dặn ghi khoảng thiếu ngay nếu nước hoặc mưa che dấu. Cậu gật rất nhanh, nhận tờ ca gấp kỹ vào vạt áo.

Trước khi dọn, An cho hạ hết đầu nhận, chờ thùng đá về mức có thể xả theo phần chủ bờ cho. Những cặn mẫu được lấy riêng, đất chưa thử giữ nguyên nắp, khay rửa không để nước bẩn sang đống rơm Hào đang che. Anh cùng Vân khiêng bệ về mép khô, vai đau vì cúi nhiều, tay không có gì mới cần gọi bằng tên tu vi. Người có thể dùng cách thử ấy ngày mai vẫn phải kê đúng một chân gỗ như hôm nay.

Tối, Trầm vá một mắt đăng, nghe An kể mình từng muốn làm đường thấp đều vì ở Cồn Sậy nó giúp một giếng. Chị kéo sợi, bảo chỗ làm giếng có giờ nghỉ của nó, đầm có lẽ cần giờ khác, đem cái tốt tới đây cũng phải cho đất trả lời. Anh ngồi cùng một lúc, giúp giữ đèn khỏi hắt vào mắt chị. Dưới khay đã nhả sạch ngoài bờ, dấu bùn để lại thành một vòng thấp; mai họ phải ra mũi bùn xem một hơi giữ của cả nền đất kéo dài hơn vòng ấy thế nào.

Trang sách tiếp theo

Chương 41: Áo mưa của Vân

Quyển III — Mùa bùn thức dậy

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!