Chương 59: Mỏ bỏ còn người
Quyển IV — Con đường không có trạm
Hai ngày sau có người từ Đá Nhạn xuống nhận lời dẫn. Chị tên Dậu, gùi không đựng sa mà mang hai chiếc sàng cần vá ở sân dưới. Độ tới chào, gọi tên mẹ chị hỏi bà còn đan phên được không. Dậu đáp còn đan, nhưng đã phải kê chỗ ngồi gần nắng. An nhìn tờ hình mỏ đóng, thấy trên khoảng trắng ấy từ đầu đã có một buổi sáng của người khác, chỉ không có ai vẽ bếp và sân vào bản hàng của Phùng.
Chị nhận dẫn ngoài bãi và cho xem chỗ có người dùng nước, chưa nhận đưa ai vào hầm. Phần miệng cũ thuộc nhiều nhà có đồ ở đó, họ cần tới hỏi từng chỗ trước khi đặt thước chắn đường. Tiền ca trả cho chị như người dẫn khác, không đổi một chuyến vá sàng thành việc gọi giúp người quen. An cất phần đồ thử vào thùng ở sân, mang theo bộ đo nhẹ, giấy và khay mẫu có nắp.
Đường tới mỏ vòng qua vai đồi, nửa ngày đi từ nơi nghỉ. Miên hỏi chỗ về khi trời kín, Dậu chỉ hai nhà có thể xin ngồi chờ chứ chưa hứa thay họ cho cả đoàn ngủ. Tới gần trưa họ thấy mái thấp sau đống đá bỏ, mùi cơm mới và tiếng gà tranh nhau ở một vũng cạn. Một đứa trẻ chạy ra gọi chị, cầm miếng gỗ làm bánh xe, ngừng trước người lạ rồi lùi vào dưới phên.
Bảng mỏ đóng dựng cao trên lối cũ, chữ bạc vì mưa. Phía sau không có một sân hoang không ai dùng; dây áo mắc giữa hai cọc, máng nước đi qua một tảng vỡ, luống rau nằm sát chỗ đủ đất. Dậu nhấc giỏ đồ nhà khỏi lối cho An đặt khay, dặn đá sáng có thể nằm ngay dưới dép, đừng cúi nhặt thứ nào cũng bỏ túi. Mỗi đống trước hiên đã được ai đó sàng, không phải toàn bộ là mẫu vô chủ.
Mẹ chị ngồi đan phên dưới mái, nhìn An mang thước dài liền hỏi có phải tới kéo lại mạch đường không. Anh đáp tới tìm vật liệu và cách nước qua bãi, hôm nay chưa nối nguồn. Bà gật, chỉ cái ghế chân thấp cho Miên, gọi con trai nhà cạnh tới giữ gà khỏi nhảy lên khay. Những điều người đo phải xin phép nhỏ tới mức dễ bước qua, mà bước qua rồi sẽ không còn là một buổi tới nhà ai.
Dậu trải một tấm lót ở sân, lấy ba phần sa từ ba túi khác nhau. Túi nhặt mặt bãi sau mưa, túi sàng từ đống cũ có giờ người bán đã cân, túi còn lại của nhà bên gửi so chứ chưa cho dùng. An chọn hỏi nguồn từng túi trước khi mở. Độ giữ mép thấp, Miên lấy lượng vừa theo ca đã nhận, phần còn lại buộc trở về đúng dấu. Ánh lấp lánh giống nhau dưới nắng không làm ba đời hàng thành một lô.
Chị cho xem cách sàng bằng tay. Mặt sàng phải nghiêng vừa để thứ to đi trước, phần bụi giữ trong khay dưới, không đổ theo dòng rửa thẳng xuống rau nhà. Một chiếc sàng vá có mắt không cùng cỡ cho ra phần khác, chị dùng nó cho lớp đầu thô, sàng tốt giữ lớp sau. An xin vẽ hai mặt lưới, không sửa ngay vật đã có công khác chỉ vì nó không làm được hết những điều một tấm mới cùng cỡ có thể làm.
Mỏ dừng lấy sâu đã tám năm. Dậu kể hồi ấy người đông, hàng xuống đều, sau một mùa phải chống thêm vách mà tiền không còn đủ, nhóm lớn rời. Một số gia đình ở lại vì nhà ở đây, nhặt phần mặt và nhận công theo chuyến nhỏ. Không ai trong những người trước mặt An nhận đang khai lại hầm cũ. Họ vẫn phải đi nơi khác mua gạo lúc sa ít, không sống bằng một lời gọi nơi này đã bỏ là hết phần sống của mình.
Độ hỏi thẻ đóng mỏ cũ do ai giữ. Mẹ Dậu chỉ một người ở nhà xa có bản sao việc ngừng lấy, hôm nay đi bán. An không nhận lời bà thành quyền xem tất cả, nhờ chuyển hỏi khi người ấy về. Phùng chỉ đặt mua qua các lô, cũng chưa đủ nói cả đồi do ai giữ. Việc truy nguồn có chỗ dừng ở người đang vắng, không lấp được bằng tên người mua gần nhất cho bản khỏi trống.
Một người hàng xóm mang túi đã gửi so tới lấy lại. Miên gấp tờ, trả đủ phần chưa dùng cùng chút đã lấy mẫu theo lời nhận của chủ, nói rõ mẫu nào đã rửa không đổ vào hàng khô nữa. Người ấy nhìn túi còn đủ cân rồi nhận giúp ngày sau chỉ chỗ hứng mưa đầu bãi. Dậu đưa nhìn An: thấy không, muốn hỏi được chuyện dưới đất đôi khi phải bắt đầu từ việc trả đúng một túi trên bàn.
An cười, nhận lời, nhưng giữ tờ giờ cạnh khay. Túi Dậu đang cho xem có vài hạt mỏng bám lên vải sau sàng, anh xin giữ cả mảnh dính thay vì chỉ hạt lớn tiện nhặt. Có thứ đi theo nước qua bãi không ở lại trong mắt sàng người mua đang trả tiền, mà vẫn có thể tới nền đường sau mỗi lần mưa. Anh chưa biết nó giữ lực tới đâu, mẫu chỉ cho một câu hỏi nên mang về đối.
Dậu múc nước còn trong khay ra hai bát cùng cỡ, để một bát nghỉ, bát kia khuấy lại cho xem. Hạt lớn xuống khá nhanh, phần đục còn nổi lâu hơn giờ họ chờ dưới mái. Chị không đổ nó ra vì thấy đáy đã có một lớp nặng. An đặt hai bát cạnh nhau, ghi lúc lấy, nhìn một dải rất mỏng bám lên thành trên mức lắng. Vật nhỏ ấy không giúp bán thêm bao nhiêu cân, người sàng vẫn phải lo chỗ nó ở sau mỗi buổi rửa. Anh xin mang một phần có nắp cùng mẫu thô, để giờ và cách đã lấy còn đi theo thứ nước đục này xuống sân.
Lối nước bắt đầu từ rãnh hứng trên vai đá, qua bể nhỏ rồi chia thành máng gỗ trước mấy nhà. Dậu dừng chỗ người ta giặt, cho An đứng trên nền chắc, chỉ phần nước dùng và phần chảy sau sân phải tách. Mưa từ đống sa có ngả khác đi qua bụi thấp ngoài ranh rau. Nếu tiện mở thẳng một lối từ hốc trả đường xuống đây, nước có thể tới nhanh hơn nhưng kéo cả thứ mặt bãi đang giữ vào chỗ bà mẹ vẫn dùng rửa phên.
Miên đặt thước cùng Dậu, hỏi từng cọc mang dấu nước cũ. Chị không nhớ hết giờ mùa trước, chỉ nhận cao tới đâu trong đợt mới qua. Độ đưa thêm lời mình từng thấy, hai người không khớp một khoảng vì tới bãi khác ngày. An giữ hai mốc riêng, không lấy người quen từ trước làm người đúng tự nhiên. Anh nhớ đất Cửa Lau đã đổi trong một tháng, ở đây một mùa mưa còn đủ làm một lối sàng thành ngả nhận mới.
Tới đoạn quanh miệng cũ, An thấy một thanh đá gắn trong khung gỗ, đầu có ngàm như tấm đường. Nó đã thành giàn treo đồ, đầu dùng buộc một chiếc nồi méo. Dậu nhận lời cha chị từng mang về từ nhóm lấy sa, còn mảnh có dấu ở dưới chân kho. An xin chờ chị dỡ nồi và gọi người phụ kê đỡ giàn thay vì với tháo luôn lúc đang nhìn thấy dấu. Một mối nối từng làm việc khác vẫn đang chịu thứ treo trên nó hôm nay.
Khi thanh xuống đất, mặt dưới có chữ còn rõ hơn tấm mua ở kho. Độ đưa bản chép, hai góc khớp cách đánh mỏ, nét lô bên cạnh khác. Dậu tìm trong giỏ cũ một thẻ đã bọc, nói nhà giữ vì từng dùng đối công cho cha. An được phép chép phần vật liệu và ngày, chỗ tính việc riêng gia đình chị gấp lại. Truy nguồn một khối đá không cần mở hết những điều một nhà giữ trong giỏ của mình.
An đặt cán lên thanh đá rời dưới giàn, nhận hai rung rất nhỏ nhưng tiếng gà phía sau chen vào. Anh không xin cả nhà im để dùng một cảm giác chưa đủ phân làm kết luận. Miên ghi vị trí, hẹn mang mẫu đã được nhận về sân thử theo cùng cách với tấm dưới hốc. Dậu chỉ dấu mặt từng được cha giữ lên trên; nếu cần đổi hướng để đối, phải ghi lại, đừng trả về làm nồi nhà nghiêng sau một buổi khảo sát.
Phía cuối rãnh có vạt đậu của bà Mùi. Người giữ ruộng đang làm cỏ, nghe Dậu gọi mới đứng lên khỏi hàng. An chỉ từ lối, xin biết nước mưa tới mép nào; bà đáp hôm nay cho hỏi ở bờ, chưa cho vào giẫm giữa đậu. Anh ở nguyên ngoài, vẽ phần chưa tới bằng nét đứt. Bãi rộng bằng một chỗ lắng tốt trên giấy vẫn đang cho một mùa bữa ăn, họ sẽ phải trở lại hỏi riêng nếu thật cần dùng.
Đầu buổi chiều Dậu dẫn tới miệng hầm từ đường ngoài. Cửa tối sau một khung gỗ cũ, cỏ mọc ở chân nhưng có dấu dép mới ở lối bên. Chị giải thích người nhặt sa đi mái hở phía ngoài, không có nghĩa đường sâu được dùng. Một đứa trẻ định dẫn An xem chỗ đá sáng, mẹ gọi lại, chị không cho lấy sự quen của chân trẻ thay người đủ biết điểm chống bên trong. An không bước qua khung, giữ phép đo từ nền ngoài đã nhận.
Anh tưởng mình sẽ nghe được khoảng rỗng sau đá, đặt tay lên cán rồi chỉ nhận một rung kéo dài không rõ đường. Âm dội từ cửa tối có thể làm mọi khoảng giống sâu hơn, như sân thử đã dạy. Anh lấy cán xuống, hỏi Dậu lối nào cha chị từng cấm khi mưa tới. Chị chỉ một nhánh không có trên bản Phùng, nhận sẽ phải hỏi người chống cũ trước khi biết còn cấm tới đâu. Một câu nhận chưa biết giúp anh hơn một âm nghe như đã thấy.
Độ buộc sợi vải thường ở điểm dừng, dưới dấu người nhà nhận cho đặt. Nó chỉ đánh chỗ tổ đã tới, không nhận làm ranh cấm mới cho cả bãi. An kiểm lối về còn sáng, hỏi Dậu có việc riêng cần xuống sân không. Chị phải đưa hai sàng tới người vá trước tối, cả nhóm kết ở giờ đã nhận. Miên lấy xong thước, trả ghế, Dậu đưa chiếc sàng cho An xách một quãng để tay chị còn cầm gùi mẫu của chính nhà mình.
Mẹ Dậu ra tới hiên, hỏi họ có biết ngày đường dùng lại không. An chưa có, nói phần đã biết và buổi cần đối mẫu, hứa gửi tin theo chuyến nhận với chị chứ không nói cứ đợi ít hôm nữa. Bà nhận vậy, nhờ đừng để người giữ đường chặn luôn lối dân đi giếng vì nghe có chữ mỏ. Anh ghi đường ấy ngoài phạm vi thử, sẽ tới nói trực tiếp trước khi người khác vẽ một nét khóa hết cho tiện.
Về sân dưới, họ đặt cạnh nhau tấm kho, mẫu hốc và bản thẻ nhà Dậu cho chép. Dấu nguồn cùng cách, ngày lô khác, vật lắng sáng trong mặt có nét gần nhau nhưng chưa đủ chứng tất cả cùng một mức giữ. An trải tờ ghi vật tư mình mang từ Hạ Ngạn, đối mẻ và dấu người bán từng chỉ. Một nét trên thẻ hàng gần với bản tấm kho, phần nguồn cũ chỉ ghi đồ hạ lưu. Anh giữ tay ở mép, chưa gọi đó là cả những tuyến đã làm đang hỏng.
Miên ngồi xuống đối tờ với anh. Độ đi trả sàng cho Dậu ở chỗ vá, đủ giờ của họ đã kết. Trong sân tiếng xe vòng dưới còn chuyển hàng nhẹ, không chờ hai thợ tìm ra một câu yên tâm mới ăn. An mở ngăn bản dùng ở Hạ Ngạn và Cồn Sậy, lần lượt đặt nhãn chưa rõ lên những phần cần tra tiếp. Tới tối anh đã có việc ngoài ngọn núi này phải làm: báo đúng điều vừa thấy, trước khi sự ngại làm người cũ lo khiến mình để tờ giấy nằm im.
Chương 60: Tấm dẫn mang tên cũ
Quyển IV — Con đường không có trạm