Chương 14: Cơn giận ở đầu mương
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 14 / 86

Chương 14: Cơn giận ở đầu mương

Khoảng 12 phút đọc

Quyển I — Bảy ngả nước

Ông Bửu đặt một chiếc ghế chắn lối xuống giếng. Người ruộng dưới hôm qua đã cho họ xem bờ, sáng nay ông muốn giữ nguyên chỗ đào cho tới khi đo xong giếng nhà mình. An đứng bên kia ghế, tay cầm bản vẽ đã sửa gần suốt đêm, nghe tiếng bà Diên gõ cán cuốc ở ngoài ngõ.

— Chúng ta tới đo giếng mà — anh nói.

Ông Bửu hỏi đo xong có thể còn nói chưa biết hay không. An đáp có. Ông gật, bảo vậy bản giấy chỉ cho tới xem, chưa được ghi rằng ông đã cho mở đường. An lật giấy, thấy chính Miên đã chừa ô ấy trắng từ hôm qua. Anh vẫn bực, vì từ sáng bà Diên giục nước, người bán vật liệu giục lấy mẻ và Vân chưa kịp ăn. Cái ghế nằm giữa lối bỗng giống người cố tình làm khó hơn một điều họ đã nhận trước.

— Ông muốn ruộng trên thoát mà giếng nhà không đổi một vạch nào, có phải vậy không?

Ông Bửu đứng thẳng. Bà Diên thôi gõ cuốc. Miên đang mở hộp cũng ngừng một lúc, nhưng không nói hộ anh. Ông hỏi An có đến đo nữa hay chỉ đến kể ông tham. Anh định bảo mình chỉ muốn biết mức ông chấp nhận. Nghe câu ấy trong đầu, anh hiểu giọng mình vừa không hề hỏi.

Vân đặt hộp mẫu xuống cạnh ghế, mở trang hôm trước. Cậu đọc chỗ chưa nhận đào trước đo giếng, ngập ngừng như sợ nhắc lại làm mọi người giận hơn. An nhìn nét mình đã ký bên cạnh. Anh gấp bản vẽ đêm, nói câu vừa rồi không đúng, ông đã yêu cầu điều ấy từ trước khi anh về vẽ. Ông Bửu dời ghế nửa bước, không mời họ ngồi uống nước.

Bà Diên muốn đứng cùng xem. Ông đồng ý nhưng yêu cầu để cuốc ngoài cửa, lối nhỏ không đủ chỗ. Bà dựng cuốc sát vách. An đi sau, đặt túi thấp để không va chiếc ghế vừa dời. Công việc buổi sáng bắt đầu bằng một khoảng anh phải bước chậm qua, không phải bằng đường chỉ đã tính sẵn trong đầu.


Giếng nhà ông Bửu thấp hơn giếng Đá Bạc, có bậc đất dẫn xuống một sàn gỗ. Trên thành là những vạch dùng nhiều năm, vạch cũ mòn đến nỗi phải nghiêng đèn mới thấy. Miên đo độ sâu hiện tại, nhờ ông chỉ mức thường có sau một trận mưa. Ông không dùng số khắc trên giấy, lấy ngón tay tì đúng hai vạch trên đá. Bà Diên nhận ra một vạch, bảo năm ấy ruộng mình ngập cả tháng.

An gõ thử thanh gỗ sàn, tiếng vọng làm hai âm đè nhau. Anh đổi chỗ, chỉ giữ một miếng đồng áp đá. Vân đọc theo bản đánh dấu mới, để đầu giấy quay về lối vào. Không ai nói lúc đầu. Miên đo lượt thứ nhất, giếng đứng nguyên ở mức sáng nay; dòng dưới bờ thấp nhận yếu như trưa hôm trước.

Họ thử một nhánh rất nhỏ ngoài bờ, có người ruộng trên và dưới cùng giữ dấu. An ở giếng nhìn mực. Bà Diên ở đầu vào, đã được chỉ cách báo dừng nếu đất rịn. Ông Bửu đứng gần gàu, không chạm dây; ông muốn nếu nước đổi thì biết không phải vừa có ai múc. Vân chuyển tin bằng lối ngoài vườn, không chạy qua sàn gỗ đang dùng làm mặt đối rung.

Qua khoảng đợi đầu, nước không hạ. An cảm thấy một phần bực bội muốn trở lại: họ đã mất buổi sáng vì một cái giếng có lẽ không liên quan. Anh nhìn ông Bửu, thấy ông vẫn nhìn vạch đá chứ không nhìn nét mặt mình. Miên chỉ tờ đo cuối đường, nhắc phải giữ hết khoảng trễ đã ghi ở lớp đất hôm qua. An ngồi xuống ghế thấp, mở bàn tay đang nắm cán.

Gần cuối lượt, mặt nước tụt một quãng nhỏ. Không đột ngột, chỉ lộ thêm mép rêu. Ông Bửu đặt móng tay vào chỗ vừa ướt, ra hiệu cho Miên. Giấy cô cũng nhạt ở một vệt sâu hơn vệt đầu. An nhìn thanh gỗ, cảm rung chuyển trước khi nước hạ; hai dấu không tới cùng lúc. Nỗi lo bị anh gọi bằng giọng khó chịu đã có một phần hiện ra thật.

Họ báo dừng nhánh thử. Bà Diên trả lời đã ngắt, nhưng nước giếng vẫn hạ thêm một chút rồi mới đứng. An chưa dám gọi đó là chỗ cuối. Họ chờ, theo dõi tới khi hai bản đo đứng yên. Ông Bửu kéo gàu, nước vẫn đủ dùng, nhưng hỏi nếu mở tới lượng cần thoát cả ruộng thì sẽ tới đâu. An đặt tay xuống giấy, nói chưa biết, và hôm nay ông có lý do để giữ ô đào còn trắng.


Bà Diên trở lại giếng với đôi chân bám đất ướt. Bà hỏi số hạ có bằng một gáo nước không. Ông Bửu chỉ vạch. Bà bực vì chỉ một gáo mà mình còn cả ruộng; ông đáp đâu biết lần sau chỉ một gáo hay cả giếng. Họ nói cùng lúc, An nghe mất các chữ cuối. Anh giơ tay xin chờ, lần này không phải để đáp điều đã nghĩ sẵn.

Miên trải tờ đo lên nắp hòm. Nét đầu cho thấy giếng không đổi, nét cuối cho thấy đã đổi; giữ một tờ bỏ tờ kia đều có thể làm người xem tưởng nhà bên nói sai. Cô đề nghị thử hai lượt có thời gian khác nhau, đổi người giữ dấu, để họ cùng thấy độ trễ trước khi tính cách nối. Ông Bửu hỏi có làm giếng hụt thêm không. Cô nói có thể, cần bắt đầu ở lượng thấp hơn lượt vừa rồi và dừng ở chính mức ông đã thấy.

An muốn đặt một đường trả về giếng ngay. Ông nhìn xuống vạch ướt, không cho thử một mối mới vào giếng mình chỉ vì họ vừa thấy nó hạ. An cất chỉ. Họ còn một lối trả nằm ngoài bờ, đi qua bồn đất cũ dùng ngâm cói, giờ chỉ mọc cỏ. Hôm qua ông Bửu chưa dẫn tới vì lối ấy thuộc chỗ người nhà đang phơi lúa. Ông đi gọi con gái dời phên, cho họ xem đáy, không hứa bồn đủ chứa.

An xuống bồn, nghe bằng tấm kê và tay chạm rung. Đáy nhiều lớp đất khác nhau, chỗ sát mép lắng chậm. Miên đo được một khoảng có thể giữ lực thử ở mức thấp, rồi trả ra mương sau khi đầu nhận đã nhẹ. Bà Diên nhìn chiều đi vòng, bảo nếu chỉ dùng bồn đợi rồi mới trả, bao giờ ruộng mới cạn. An tính bằng những khoảng vừa đo, không lấy độ dài nét trên giấy chia thành con số nhanh. Chậm hơn lối thẳng, nhưng không rút giếng suốt một lượt dài.

Họ tập trên đường chưa nhận lực trước. Bà Diên giữ đầu vào, con gái ông Bửu nhận đầu bồn, Vân báo từ mép mương khi có người đứng nhận. An ở giữa chỉ lắp nút thử, không vừa giữ cả hai đầu vừa đếm thay mọi người. Xong lượt khô, họ đưa lượng thấp vào nhánh thử. Lượt đầu có lực, bà Diên mở lâu vì muốn đủ mức. Giếng chưa hạ nhưng bồn đầy dấu trước khi đầu nhận báo. Cô con gái nâng cờ dừng, An hạ nút phụ, chờ lực lắng rồi tháo. Bà thả tay khỏi dây, giận tới mức không muốn nhìn ai.

Lượt sau họ đặt mốc bằng hạt đã đếm, để không ai phải đo bằng nỗi sốt ruột của mình. Bà Diên tự yêu cầu làm lại. Mở ngắn, giữ trong bồn, đợi phía mương thấp rồi trả; khi giếng vừa bắt đầu nhạt đã có một đầu khác nhận phần dư. Nước không đứng hoàn toàn, vẫn nhích một ít ở vạch rêu. Ông Bửu đánh dấu mức mình chịu được, không vì gần đạt mà cho qua phần còn thiếu.

Tới lần thứ ba, họ có hai lượt giống đủ để tính giới hạn thử, một lượt hỏng cần nhớ. Miên không gom thành “đã đạt”. Bồn nhận được thấp hơn lượng bà Diên muốn, nhưng có thể mở lặp từng phần nếu người giữ ca chịu đứng đủ. Tiền công bảo dưỡng và thời gian chờ lại xuất hiện trong giá sửa, không biến mất nhờ An nối khéo. Bà Diên đặt cuốc nằm ngang đầu gối, hỏi rõ mỗi buổi cần mấy người. Lần này bà hỏi để tính, không để thắng người giữ giếng.


Giữa trưa, họ ngồi ngoài ngõ vì sàn giếng còn phải phơi khô. Con gái ông Bửu mang cơm tới cho cha, chia thêm chỗ đặt bát cho người khác dùng đồ mang theo. An ăn ở mép phải để nghe được hai nhà. Ông Bửu hỏi bản vẽ đêm của anh định bỏ cái bồn đi đâu. Anh mở ra: trên giấy lối ấy chỉ là một khoảng trống anh chưa hỏi.

— Tôi đã nghĩ ông cứ thêm điều kiện sau — An nói. — Hôm qua ông đã nói trước. Tôi giận vì mình muốn đi nhanh.

Ông Bửu cầm bản, nhìn nét thẳng từng dự định dưới gốc thị. Ông không bảo không có gì. Ông trả giấy, nói mình cần người tới sau đọc được vì sao giếng phải chờ, nếu chỉ An nhớ thì lúc An đi ai lại coi ông là người cản. An chép mức thử, thời gian trễ và vị trí bồn lên bản cả hai nhà giữ. Vân giúp vẽ giếng cho người không nhớ ký hiệu nhận được ngay.

Bà Diên đồng ý cho dải bờ để thử đường vòng, ông Bửu đồng ý cho dùng bồn ở lượng vừa thử. Cả hai chưa nhận bảo dưỡng lâu dài, phải hỏi người nhà về ca và tiền. Họ chọn hôm sau đối lại, không để chữ đồng ý hôm nay tự nở thành một lời hứa cả mùa. An đánh dấu đầu tiên có thể đặt nút tháo riêng trong phần lối đã được nhận; đó sẽ là cách không phải mở cả mạng mỗi lần bồn nghẹt.

Con gái ông Bửu hỏi nếu dùng bồn cả mùa thì phên lúa của cô đặt đâu. Ông vừa định chỉ sân trước đã bị cô nhắc nơi ấy hứng nước mái. Buổi sáng cô cho dời phên để đo, chưa nhận mỗi ngày chạy đi dọn theo giờ mở nút. An đặt lại bút, ghi phần ấy vào chỗ cần hỏi ngày mai, không coi việc người cha đã gật là đã có cả thời gian người con.

Bà Diên nhìn đống phên, đề nghị dùng một góc sân nhà mình sau khi lúa đã hong, rồi tự dừng vì hôm nay nó còn đầy. Cô con gái không giận, chỉ bảo họ tới xem sân trước khi gọi đó là chỗ thay được. Ông Bửu kéo ghế sát vách hơn để cô khiêng phên về, lần đầu trong buổi tự đứng dậy giữ đầu nặng. An phụ một đầu, cùng đưa lúa trở lại nơi cũ sau lượt thử. Công trình mới chưa có, chỗ người khác đang sống đã phải được trả ngay.

Miên cuộn bản của mình, bảo chiều cô về đo ba giếng theo lịch, không đi cùng An chọn gốm. Anh nhìn số việc còn lại và cái bóng đã ngắn dưới ngõ, muốn nhờ cô đổi giờ. Cô đã để người ba giếng đợi một lần tuần trước. Anh gật, nhận phần chọn vật liệu cùng Vân, hẹn tối chỉ đối số trong khoảng trước khi đèn nhà họp tắt.

Ra tới đường, anh mới thấy mệt. Tiếng liềm, tiếng gàu, tiếng hai người còn cãi đằng sau dồn ở một phía. Anh không còn phân được ai gọi tên mình. Vân đứng trước, giơ bàn tay cho anh dừng, rồi hỏi cần ngồi không. An nhìn lối chợ còn xa, đáp cần. Hai người ngồi dưới tán thị, hộp gốm ở giữa, để một lượt xe đi qua trước khi nói tiếp.

An không mở bản vẽ. Dưới giếng, nước đang đứng lại sau lượt thử cuối; ngoài ruộng, bà Diên còn phải cắt lúa sớm một phần. Hai việc ấy cùng có thật, không đợi anh chọn cái nào được kể trước. Anh giao Vân giữ giờ hẹn với người bán, tự nói mình có thể tới chậm, và nhờ cậu đừng đi mua thay khi mẫu chưa đối. Cậu gật, chưa đứng dậy. Bóng rễ thị nằm ngang lối, đủ dài cho hai người nghỉ mà không chắn đường.

Trang sách tiếp theo

Chương 15: Ngày không nghe chuông

Quyển I — Bảy ngả nước

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!