Chương 73: Đường nứt trên bát
Quyển V — Phần nước để trống
Bốn ngày sông, đổi thuyền hai bến, Hạ Ngạn hiện ra sau một bờ đất thấp hơn trong trí nhớ của An. Chỗ người bến từng móc dây vào cọc giờ phải nối thêm đoạn mới chạm thuyền. Anh đứng đợi ván kê đủ, nhờ Vân nhận hòm trước rồi mới bước, không dùng buổi về để chứng tỏ chân mình đã quen mọi bậc. Chuông nhỏ phía phải kêu một tiếng, cờ có người đáp. Nước ít hơn, việc báo vẫn đang chạy, hai điều nằm cùng trong một buổi sáng.
Vân đưa phần đồ tổ tới nhà họp rồi về nhà, hẹn buổi sau ngày nghỉ nhận việc mới. Cậu cầm túi tiền dành cho mẹ và cuốn có mẻ sai, không bỏ một thứ ở lại để người nhà chỉ xem thành công. Miên thuê chỗ cất các bản của mình, mở hòm hỏi tin người đo trước khi định lịch. An về gian cũ, thấy một lớp bụi ở ngưỡng, cái chốt cửa kẹt vì gỗ co. Anh kê hòm, sửa chốt đủ mở rồi ngồi xuống, uống bát nước vừa xin thay vì đi từ bến thẳng tới mọi giếng trong thư.
Bà Từ tới lúc anh đang phơi áo đường. Bà mang gói đồ khô, ngồi ghế chứ không cúi nhặt giúp dây dưới đất. Hai người hỏi nhau những chuyện rất nhỏ: một học viên chuyển chợ, chị bán đậu đổi ngày lớp, mép mái đã có người sửa. Bà nghe An kể chiếc xe bán ở đèo, không khen anh biết dừng đủ rồi, chỉ hỏi phần công của người ở lại có đi cùng báo giá không. Anh đáp có, đưa tờ Tú nhận, bà xem tên, trả lại trước khi tay run làm rơi giấy.
Chiều họ tới lớp xem một chiếc bát chỉ mẫu bị rạn. Nó là bát đất nông chứa nền ẩm, giữ sợi chỉ đọc dưới giá riêng trong các buổi tập; không phải nguồn lực của giếng. Người học đã ngừng dùng khi thấy vệt ở lòng, đặt cạnh chiếc nguyên cùng mẻ. Bà Từ nhận phần giữ lớp buổi sáng từng để nền khô quá lúc đi nghỉ mà quên giao người tưới theo lượng đã đối. Bà không ở lại cả đêm bù lỗi; người nhận sau đã giữ vật sai để hôm nay biết chỗ nào cần đổi.
An chạm mép ngoài, vết nứt mảnh chạy qua chân kê. Bên trong chỉ vẫn rung khi gõ giá, đủ để một người chỉ nhìn sợi tưởng bộ còn đúng. Miên đặt hai chiếc trên cùng nền phẳng, đổi chỗ rồi đưa lượng ẩm bằng nhau vào phần đã giữ riêng. Chiếc rạn thấm một vệt ra dưới trước, nền của nó không còn giống chiếc nguyên. Họ tháo khỏi bộ đọc, không dán lại ngay rồi dùng kết quả đẹp của một buổi để nói có thể nhận mẫu sống trở lại.
Ở giá không nhận lực, chiếc rạn còn cho một nét lệch khi mặt dưới khô dần. An giữ cả nét ấy bên cạnh lượt gõ, để người thay bát phải đối điểm đầu chứ không chỉ tìm một lần sợi rung.
Sáng ngày sau nghỉ, An cùng người giữ giếng ra kiểm chỗ đã nhận thư. Giếng này ở đầu xóm Hạ, không phải giếng ông Bửu dưới ruộng Diên. Thợ trực đã giữ đường trả và nhật ký, nhưng chỗ nước trên vách thấp dần qua nhiều buổi. Người giữ mở nắp cho An nhìn, bên cạnh vạch cũ có một khoảng khô dài, không có một cái chốt mới đóng kín để chỉ cần tìm ra là giếng được trả đủ. An yêu cầu giữ mốc trước khi sửa quai và rác ở miệng, không xóa cả dấu hạ bằng một lượt cọ cho sạch.
Ở đường vào nông có ít cỏ mắc, họ hạ nhận, đợi phần về rồi lấy ra. Dòng nhích lên một chút, thấp hơn mức tháng trước. Người đứng chờ hỏi có cần mở mạnh hơn để kéo nước sâu lên không. An chỉ lượng bồn còn nhận, chưa tháo cữ. Những mốc cũ đã giúp giữ một mùa không ngập, không tạo thêm lượng đầu nguồn hôm nay. Anh nói câu ấy với người giữ, nhưng trong bụng vẫn nghĩ nếu tìm thêm được chỗ cỏ thứ hai, tờ hẹn có lẽ sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
Miên mang số từ người đo trên dốc tới. Mưa vùng núi họ vừa rời không đi qua cùng những sườn nuôi giếng này; những tờ hiện có mới phủ vài nhánh gần, có ngày còn trắng. Không thể chỉ lấy một lá thư nói mưa để kết người Hạ giấu nước. Họ đối giờ và giếng bên cạnh: cả hai hạ nhưng dải khác. An lắng bằng tai phải ở chỗ tì đã biết, thấy dấu yếu chứ không tìm được trong khoảng lặng một hồ đầy chờ người đủ tài gọi ra.
Sau khi Miên sang giếng kế, An cùng người giữ đối lượng bằng thùng đã kiểm vạch. Họ bỏ lượt đầu bám nước ở thành, giữ cả giờ chờ rồi làm lại, không dùng một thùng nhanh nhất trong buổi. Số ở lần cuối còn gần mức tối thiểu ghi từ mùa trước. Chỗ đèn trang trí ngoài sân nhận lực ít nhưng có thể ngừng, một người dùng đã nói sẵn sẽ giảm vào buổi tưới. An cộng phần dự định ấy vào bản nháp, lấy mẫu hôm nay làm đáy cho hai ngày tới. Anh thấy những phép cộng đều có tên, quên rằng nền của chúng đang hạ theo ngày chứ không đứng yên như một chiếc bồn vừa đo. Người giữ hỏi cần thêm buổi chiều không; anh bảo sẽ có ở lịch kiểm, rồi vẫn lấy con số sáng để nói điều người đang chờ muốn biết.
Một phụ nữ cần nước cho vườn rau hỏi phải trông chờ bao lâu. Bà đã nhận một đơn cây giống, sáng ngày thứ ba tính từ hôm nay cần quyết giữ hay bỏ phần đem gieo. An tính hai ngày cho kiểm nối và đổi lịch ít dùng, nhìn những mốc xóm đã giữ đều, viết sẽ trả lại mức tưới tối thiểu vào sáng ấy. Miên đang đối ở giếng bên, chưa xem câu ấy. Người phụ nữ xin bản có tên, anh ký, chỉ lưu lượng ghi trên tờ cũ làm mức định trả, chưa đối đầu nguồn sẽ còn bao nhiêu sau hai ngày khô nữa.
Đi được nửa đường về anh gặp Miên, đưa giấy. Nàng hỏi đây là hẹn xong kiểm hay hẹn có nước. An đáp sẽ sửa và chia lại phần còn, nghe chính mình phải thêm một câu sau chữ đã ký. Nàng yêu cầu tách phần đo khỏi phần hứa cho buổi tới; hôm nay giấy đã ở tay người dùng, nếu muốn đổi phải tới báo và nhận câu trả lời. Anh cất bản, không lấy bút sửa ở phần mình rồi coi người kia cũng đã cầm một lời khác.
Buổi chiều họ tới Đá Bạc. Vườn mận có những gốc cũ đã mất, cọc cây chết không bị nhổ đi vì bên cạnh mọc cây non khác. Bà Sương dẫn tới phần theo mùa, chỉ một gốc sống đang cuộn mép lá. An đặt tay ngoài rễ như những lần trước, không đào thêm vì đất khô làm anh sốt ruột. Một mối nối đã ngừng từ lâu vẫn nằm trong hộp mẫu của chủ vườn; họ không đem nó buộc lại để ép chồi ra đúng lúc khách mua quả tới hỏi.
Cố Kính và người giữ sổ tới sau, đối một khoản bồi còn tới hạn. Cố trả phần đã có, phần dài hạn còn tên ông, không lấy mùa hạn mới trừ đi thiệt hại của lần chuyển lực cũ. Ông hỏi An có dùng người kiểm chân kê không, bản của ông có thể cho xem đúng phần kho đã nhận cùng người khác. An nhận thời gian cụ thể, không nhận một chìa khóa riêng mở mọi ngăn khi mình cần. Ông ngồi xuống ghế thấp, bóc một thanh gỗ mục để người vườn giữ làm dấu việc đã thay.
Ông lão bên giếng kéo gàu, quai sửa cũ vẫn dùng được. Lần này dây phải xuống sâu thêm, ông nhờ người khác phụ đoạn nhấc cuối vì vai mỏi. An đặt thùng vào chỗ kê, không cầm luôn cả dây rồi được nhìn thành người trả lại nước. Cái gàu đã được trả từ những năm trước; nó ở đây làm đúng việc của chủ, không chờ anh tới để kết lại một món nợ đồ đạc trong câu chuyện mình.
Miên xin bà Sương đối một dải cây có phủ gốc với dải chưa phủ, lượng nước phải ghi riêng từng nơi. Bà chọn mấy gốc, không giao cả vườn làm bằng chứng. Lớp cỏ khô lấy ở đâu có người nhận tiền cắt và mang, không kéo từ bờ rễ bên cạnh cho mất lớp giữ ở đó. An cùng chủ thử một gốc trước, giữ khoảng quanh thân khỏi bí, chưa nhìn một vệt ẩm rồi hứa cây sẽ sống. Ngày xem lại được gắn với việc người vườn thực sự có thể ghi.
Bà Diên tới hỏi tổ có xuống đối bồn tuần này không. Ruộng bà đã qua vụ cũ, đang chuẩn bị phần lúa mới với một lịch khác; không phải bông lúa năm đầu còn đứng chờ họ. Bà muốn mức nước thấp hơn để dễ làm đất, ông Bửu lại cần giữ giếng trong dải. An nhận buổi hỏi hai nhà cùng có mặt, chưa nhận đổi cữ ngay. Anh nhìn bản giờ đã bạc trên vải, thấy mùa khác sẽ buộc những lời đúng cũ phải được hỏi lại bằng người vẫn ở đây.
Tối họ đem bát rạn về bàn lớp. Vân đã hết ngày nghỉ, đến theo giờ hỏi trước, nhìn vệt thấm rồi chọn để nguyên một chiếc làm mẫu lỗi. Phần bát có thể sửa cho việc đựng khác cần hỏi chủ, chưa có quyền nghiền đi làm vật liệu mới. Cậu nhận làm thử chiếc thay theo lượng nền cũ, tách khỏi hình bát chân cao lựa cói cho bà Hường. Việc của Hường vẫn chờ đối một kích thước gửi về, không vì Vân đã đi núi về mà trong nhà bà bỗng có một món hàng cậu chưa làm.
Bà Từ đưa tên người giữ nền ngày mình nghỉ. Chị bán đậu xem lịch, sửa một buổi trùng chợ, người mới nhận phần ngắn sau khi được chỉ cách cân lượng. An định đứng vào buổi sáng thứ ba rồi dừng lại, lấy tờ giếng ra. Cùng giờ ấy anh đã viết trả mức nước. Chiếc bát thay không giải được hai nơi chờ một bàn tay, cũng không giải được lượng nguồn mà tới lúc ký anh còn chưa hỏi hết.
Anh ra giếng ngay trong buổi tối, có người cùng đi, xin gặp người đã nhận giấy. Bà đang đưa cây giống vào bóng mát, nghe anh báo cần đo lại mức có thể nhận thay vì chắc chắn mức cũ. Bà không đồng ý coi lời hẹn đã đổi: đơn giống sáng thứ ba vẫn phải quyết, tổ đã nhận để bà chưa thuê người đi chở nước. An xin buổi sáng mai tới đủ người đo và chủ đơn để tìm cách cụ thể, nhận phần chậm của mình không biến thành bà đã chấp nhận chỉ vì bà nghe hết.
Về nhà, Miên để cơm phần anh trong chỗ giữ nóng, không ngồi chờ tới khi anh khép được tờ giấy. Nàng còn một lịch đo tự nhận, buổi sáng chưa thể đứng cùng ở giếng. An ghi người cần tìm thay vì đặt tên nàng vào chỗ khuyết, báo sẽ nói với người dùng đúng ai tới. Ăn xong anh rửa bát, đặt cạnh chiếc rạn đang để khô; hai chiếc làm hai việc khác nhau, có thể nhìn bề ngoài đều nguyên đủ mà một đường thấm đã khiến lời đọc khác đi.
Ngoài sân, đất không còn giữ mùi ẩm như buổi về lần trước. An đóng cửa để ngủ, tai phải còn tiếng bước người trực đi hết ca, tai trái vẫn lặng. Hạ Ngạn đã có bảy ngả báo và những người biết dừng; nó vẫn đi vào một mùa ít nước. Trên bàn, giấy hẹn sáng thứ ba ở ngăn đầu. Anh không cất nó dưới mẫu đá đèo hay bằng chứng đã làm đúng nơi khác, để ngày mai phải nhìn thấy trước khi nói thêm một lời nào.
Chương 74: Kỷ Tấn kiểm nghề
Quyển V — Phần nước để trống