Chương 36: Đường lau gửi tiếng
Quyển II — Dưới đồng muối
Trầm trở lại khi tháng thứ tư ở Cồn Sậy đã đi quá nửa, mang mấy bó lau ngắn nhận đổi với lò. An thấy chị ngoài sân lúc đang sửa chiếc khóa hộp mẫu, áo vai có thêm một đường vá khác lần trước. Chị đặt bó lên nền khô, đếm với Thoa từng phần dùng lót, sau đó mới mở túi nhỏ đem một đoạn thân có gốc tối ra. An cầm, nhận vết cắt đã khô lâu, chưa biết nó từ chỗ nào trên bãi chị ở.
— Cửa Lau — chị nói. — Có chỗ từng cắt được bằng xuồng. Giờ phải đi bộ mà đất dưới vẫn nhún.
Chị không xin anh nghe một đoạn cây rồi sửa từ lò. Chị chỉ muốn người đo tới xem đầm trước lúc mùa dâng lớn qua, khi còn nhận ra lối cũ và bờ mới khác nhau. Một đoạn kè giữ ruộng bên trong đã làm gần hai mùa, cứu được vụ của mấy nhà, phần cạn ngoài đang đổi. Chị biết lối cá và ca cắt, không biết cần mở chỗ nào để vừa giữ ruộng vừa giữ đầm, cũng không có quyền nhận thay những nhà sống sau kè.
Miên tới cùng hộp giấy, hỏi ai đã được nghe ý muốn khảo sát. Trầm đã nói với người giữ bến và hai nhà đánh cá, một nhà trong kè muốn gặp, các nhà khác chưa nhận lời. Cô lấy tờ trống ghi những người cần có mặt đầu tiên, không viết hợp đồng sửa. An nhìn mẫu gốc trên tay, nghĩ đến chiếc vò méo ở buổi mới tới Cồn Sậy. Một vật lấy khỏi đất có thể khiến mình hỏi đúng hơn, chưa mang theo cả đất và người của nó.
Trầm phải về sau hai ngày, còn chuyến chở phên đã hẹn. Nếu nhóm đi cùng thì lên xuồng theo tải thật, đồ gốm nặng phải qua chuyến khác hoặc để ở lò. Chị không nhận đợi tới bao giờ mọi giếng ở Cồn Sậy đều ngọt. An cất mẫu vào bọc riêng có nơi cắt và ngày chị nhớ được, xin một ngày kiểm người nhận ca trước khi trả lời đường đi.
Buổi kiểm cuối không mang tên buổi cuối trên bảng. Thoa cho An đứng ngoài sân lúc bà mẹ Thực nhận đổi lượt cao, còn Kha cùng người ca khác rửa khớp. Vân cầm tờ chép, hỏi từng người có cần dụng cụ ở chỗ khác không. Một đầu đẩy bị đưa vào kho sau trận mưa nhỏ, người nhận phải đi mượn chìa mới lấy được. An nghe tiếng gọi trong cửa, muốn lấy chiếc của mình đưa qua cho nhanh, rồi dừng ở phần đất đã nhận đứng xem.
Thoa tới mở kho, chuyển bộ dùng thường ra giá khô có mái cạnh đường bờ, để chìa phần hàng khác vẫn ở nguyên người giữ. Hai người làm lại từ lúc nhận dụng cụ, không tính lần An có thể cho mượn thành việc đã tự chạy được. Khi đầu trả về dải, Kha gọi người phụ mở cửa giá; phần gốm ra trên gối, cặn vào tờ hứng riêng, nước rửa không đổ qua khe Sâm đang giữ lưới.
Một mảnh thay ở giá có thẻ nhòe mất ngày nhả. Người phụ cầm lên hỏi Kha có nhớ nó cùng mẻ những đoạn bên cạnh không. Bác đặt xuống, gọi Thoa đem bản giữ ở lò tới đối; trong lúc chờ, hai người dùng đoạn còn nguyên thẻ, mảnh thiếu dấu để riêng. An nhận ra nó là thứ mình đã đặt ở đó sau lượt thử, định mở miệng bảo dùng được. Vân đưa anh bản cần chép, anh cúi xuống làm. Tới lúc Thoa mang số đối ra, lời nhớ của anh đã được thay bằng thứ người khác tự tìm được. Họ ghi lại thẻ, bọc chỗ chữ khỏi nước nhưng chừa ngày nhận bên ngoài, để lần sau không ai cần chờ người từng đặt mảnh xuống có mặt.
Mẹ Thực đổi ca với một người của nhà rau, nói cả giờ mình phải đi đổi công chiều mai. Người ấy nhận chìa theo cách cả nhóm đã được biết, đọc lại mức chờ trước khi cất. Thực giờ nhận việc sửa bờ phơi của nhà bên theo khoản vật tư đã đổi, không còn phải ngồi cạnh chốt suốt mỗi buổi để chứng mình đồng ý ngừng kênh. Lúa bồi còn được đếm theo tháng, phần vụ sau chưa hết hẹn vẫn có người nhận xem với bà Mẫn.
An đi tới giếng đầu, thấy một hàng vò được xếp theo lượt các nhà tự chọn. Có nhà đã đổi lượt sáng với nhà khác phải ra bến sớm, người giữ ghi ở bên để khỏi bắt ai uống ít đi vì khác giờ. Nước trong mức dùng vẫn nhạt, mức hồi còn chậm những ngày nhiều gánh. Anh kiểm một lượt sau, không rút bản nghỉ kỳ cao vì tháng vừa rồi đi qua yên.
Hai giếng còn chờ có bảng mẫu riêng tại nhà Kha, người giữ nhà ở đoạn cần mở đã nhận gặp nhóm thợ địa phương trong tuần tới. An ký phần khảo sát mình đã làm, chuyển bản sao và chỗ chưa biết, không nhận đứng tên sửa khi mình sắp đi đầm. Một người bên đó tới hỏi anh có quay lại không. Anh nói có hẹn kiểm đường đầu sau kỳ mưa, phần hai giếng sẽ do người nhận hợp đồng mới quyết, mình sẽ trả lời khi có hỏi đúng phần đã biết.
Người ấy không có lời cảm ơn lớn, chỉ nhờ giữ bản gốc khỏi mất trên xuồng. An đưa luôn một bản đối lại trước mặt họ, giữ nguyên dòng chưa được phép mở. Bên ngoài, ca rửa khớp đã xong mà không có tay anh trên gốm. Anh nghe Kha gọi Thoa xem vết mòn mới ở gối, vẫn muốn tới đứng giữa. Vân kéo ghế ra hiên, hỏi anh ngồi chép một lát để đường đi của họ còn được nhìn thấy.
Thư trả nhà Vân tới cùng chuyến bến trong. Mẹ cậu nhận cậu có thể đi thêm chặng khảo sát đầm nếu giữ đủ tiền về và báo ngày đổi ý, nhắc em vẫn chờ cậu dạy những chữ mình biết khi về. Cậu đọc đoạn ấy cho An rồi cất, tự tính số mình cần chừa. Họ nhận công mới chỉ tới lượt đầu ở Cửa Lau, phần học và phần làm tiếp phải hỏi lại khi đã biết việc, không dùng mấy tháng ở Cồn Sậy mua sẵn cả năm của người trẻ.
Vân sang Nghiêu chào. Ông chỉ gói đất nhỏ đã hẹn dành, bảo mang một ít để nhớ cảm giác, phần còn lại giữ ở lò nếu sau này muốn học. Cậu không ôm cả mẫu cong với nêm nở đi trên một xuồng đã có tải phên; nhờ Thoa viết dấu cất, giữ tờ hình tự vẽ trong túi. An nhìn mặt cậu khi đặt mẫu xuống, thấy ý quay lại còn là một đường thật chứ không phải lời lịch sự nói để người ở lại khỏi buồn.
Nghiêu mang bản nợ hàng mất ra đối với An và Thoa. Hàng bù đã nhận đủ, khoản chậm còn một phần, An trả phần mình có từ công đã thu sau khi chừa ăn và đường. Phần công hứa tiếp được đổi thành một số nợ thật có ngày đối, không coi mấy tháng vừa giúp lò là lý do tự xóa. Nghiêu nhận, tay đã làm được việc thường nhưng vẫn để người ca khác nhấc nặng, giữ thói quen chia từ những tuần bị buộc nghỉ.
Miên đã tính xong phần khảo sát riêng, đem tiền giấy cho chặng mới cùng các cuộn kín lên kiểm tải. An đưa chiếc hộp mình định mang thêm, cô cân với phần nước phải chở, yêu cầu bỏ mấy mảnh đồng chưa có việc. Anh mở hộp, chọn bộ đủ nghe và nối thử nhỏ, gửi phần nặng ở giá lò có người nhận giữ. Nghiêu không tặng cả lò vật liệu vào chuyến đi, chỉ nhận nếu cần mẻ mới sẽ gửi yêu cầu rõ hình và ngày đủ chờ.
Chiếc thước có hai cặp mặt đủ đọc được chia lại: một cặp An giữ mang theo làm mẫu dải, một cặp ở lại với giá riêng Kha đã dùng thử. Miên để bản đối tại lò, lấy một bản sạch cho mình; giấy cũ nhiễm mặn vẫn giữ nơi giờ, không trộn vào cuộn mới trên xuồng. Thoa chọn một ngăn cao khô cho phần trả mẫu từ giếng sau, gõ lên nắp để người lò tới xem đúng chỗ. An ký tên nhận gửi dụng cụ nặng, không ký như đã biếu để lúc cần lấy lại thành một món đồ chung không ai dám trả.
Đêm trước lúc đi, An cùng Miên ăn ngoài hiên, cách bàn bản vẽ một khoảng. Anh hỏi cô có muốn tiếp tục cùng mình không khi phần lời chuyến vừa rồi mỏng thế. Cô nhìn anh, đáp muốn đi Cửa Lau vì nhận việc ấy đáng xem, cũng muốn ăn cùng anh; hai điều có thể giữ cùng lúc mà mỗi lần tính công cô không phải chứng lại tình cảm. Anh đặt đũa xuống nghe hết, nhận mình đã đem một câu hỏi cần hỏi riêng giấu trong chuyện sổ.
Anh hỏi lại, lần này bỏ con số khỏi câu. Cô nhận muốn cùng, nếu một đêm cần bàn sáng để làm thì anh vẫn nhớ mang gỗ ra hiên. Anh cười, đưa tay qua khoảng bàn trống, đợi cô đặt tay lên. Ngón tay cô có một vết mực khó rửa, bàn tay anh chỗ sẹo cũ vẫn khác cảm giác những chỗ còn lại. Họ ngồi tới lúc Thoa gọi dọn bát, không biến phần yên ấy thành một lời hẹn cả đời chưa ai cần nói trong đêm.
Sáng đi, An tới giếng trước lúc đẩy xuồng. Kha đang giao lượt đầu cho người khác để về ngủ, nhìn anh cười hỏi có muốn nghe lại một lần nữa không. Anh nhận muốn, nhưng để bác đi nghỉ trước. Người mới giữ đưa que tới, chỉ đúng mực và phần nước còn được lấy. An xem, lấy một bát trong lượt mình đã được nhận, rửa bát rồi trả vào chỗ đã dùng từ nhiều tuần.
Thoa đứng ở bến, cho mượn con dao đã lau và một đoạn dây rảnh buộc ngoài phần phên. Chị đã thử tải cùng Trầm, giỏ giấy kê cao, hai bên hàng giữ được lối cho người ngồi thấp. An đi dọc mạn, nhìn chỗ từng mất kiện trên xuồng lò đã vá lại ở bến khác. Không có kiện chìm nào được vớt lên vào phút chào để làm chuyến xa đầu thành trọn vẹn. Anh chào chị, nhận nhớ cả người được cứu lẫn phần tay nghề đã mất theo hàng.
Mẹ Thực mang ít cơm nắm cho ba người, nói lúa nhà mình đã tính đủ phần ăn hôm ấy, đừng lấy ra đếm tiền trên bến. An nhận, cất ở chỗ khô. Bà hỏi khi tới đầm có thấy người ta còn dùng cào kiểu bãi mình không, nếu có thì nhờ mang hình về. Anh xin để Vân vẽ nếu cậu muốn nhận; cậu gật, lấy thêm mảnh giấy riêng. Một câu hỏi về chiếc cào đi cùng họ, không cần làm thành việc sửa cả lưu vực mới đáng mang.
Trầm chống sào ra khỏi phần bến cứng, chờ tới nước rồi mới đổi chèo. Lối tới Cửa Lau phải qua hai lượt ngủ, có một bến nghỉ tránh dòng đổi dưới lạch, chị đã báo trước. Miên ngồi bên nhìn được mặt An khi nói, Vân giữ hình tải trước chân, không đặt đồ lên cho kín khoảng vừa bỏ. Những bó phên tỏa mùi lau khô, có mấy thân bị cắt ngắn làm đệm dưới hộp mẫu.
An quay lại khi xuồng còn đủ gần nghe một tiếng gọi phía bờ, phải xoay cả người để nhìn đúng người. Kha không có ở đó; bác đã về ngủ như nói. Thoa giơ tay thay lời chào, sau lưng chị cửa lò mở cho ca mới vào. Anh giơ tay đáp, ngồi lại thấp theo lời Trầm. Cồn Sậy lùi sau những bó phên, phía trước mặt nước mở rộng rồi khuất vào một hàng lau không chạy thẳng; anh cất bản cũ khô trong hộp, để tờ trắng của chặng mới nằm trên cùng.
Chương 37: Bờ lau không đứng yên
Quyển III — Mùa bùn thức dậy