Chương 5: Bản đồ của người ở lại
Quyển I — Bảy ngả nước
Về tới Hạ Ngạn trong buổi sáng ấy, họ trải giấy ngay ở nhà họp. Tấm bản đồ đầu tiên vẽ trên bàn rất đẹp. Du Miên dùng mực đen cho mạch chính, xanh cho nhánh trả, để trống những khoảng chưa đo. Cố Kính bổ sung bể của trạm. An đánh dấu các chỗ nối cũ bằng hạt đậu.
Anh đã xin kê thêm bàn nhưng chân bàn phụ thấp, giấy bị võng ở giữa. Bà Từ mang hai miếng gỗ chèn rồi ngồi ở cửa, nhường cả khoảng sáng cho người vẽ. Đầu ngón tay An bọc vải, hạt đậu cứ lăn khỏi chỗ định đặt. Anh dùng mép bát chặn một hàng, nghĩ nếu xong trước trưa sẽ còn đủ chiều đào.
Người các xóm tới với đủ thứ không giống dụng cụ đo: một đoạn gàu cũ, cành mận khô, chìa hầm ủ. An thoáng lo không kịp giải thích. Cố Kính đứng cạnh tấm dẫn đã mang xuống, xin mọi người ngồi nghe. Nhưng ghế không đủ, người đứng ngoài không nhìn thấy mặt bàn. Miên đặt bút, nhờ người giữ guồng cùng nhấc bàn sát cửa. An đỡ mặt giấy bằng hai cẳng tay, dọn lối để người nói có thể tới chỉ thẳng chỗ mình muốn sửa. Nét đầu tiên bị nước ở chân bàn kéo loang ngay khi họ vừa kê xong.
Ông lão Đá Bạc nhìn một lúc, nhấc hạt đậu gần mép bàn bỏ sang chỗ khác.
— Bể ấy lấp từ hồi con gái tôi lấy chồng.
Một người Vườn Dâu kéo đường xanh đi vòng.
— Qua đây là hầm ủ. Đào thẳng, nhà tôi sụp.
Tới trưa, bản đồ trông như chiếc áo bị tháo chỉ. Du Miên bắt đầu vẽ lại trên mảnh giấy lớn hơn. An thấy cô mỉm cười lúc xóa một nét rất thẳng của mình.
Anh cùng người Vườn Dâu ra xem hầm ủ. Trong hầm còn những nong phải giữ khô; mái vòm đã nứt một đường cũ. Đào sâu thêm để luồn chỉ sẽ cắt qua chân tường. Chủ hầm hỏi có thể chèn đồng trước không. An đo bề ngang, nghĩ tấm của trạm đủ phủ, rồi nhớ chính khối đá trên đài cũng đã được phủ nhiều lần. Anh nhờ Miên đo lực ở mép hầm trước khi trả lời.
Họ trở lại bàn với một đường phải đi vòng ra bờ mương. Nó dài hơn nét thẳng gần gấp đôi. Một người than vòng thế cần bao nhiêu chỉ. An cũng đang tính cuộn cuối trong túi, nhưng không dùng việc thiếu vật liệu để làm hầm ủ của người khác chịu thay. Anh xin kiểm số tấm cũ trong kho; còn dùng được bao nhiêu mới biết cần thêm bao nhiêu. Cố Kính lấy chìa, lần này không tự đi chọn những tấm ông muốn mang ra. Ông cùng hai người trồng mận tới kiểm cả chỗ đã tháo trước mặt họ.
Chỉ còn một đường chưa ai đồng ý. Nó phải chạy qua kho chung ở Hạ Ngạn, xuống mương rửa rồi tới bể đá ngoài đồng. Kho đang giữ thóc giống. Nếu dẫn lực quá mạnh, hơi nóng sẽ làm hỏng cả vụ sau.
Du Miên còn đánh một nhánh phụ từ giếng qua sân nhà họp ra mương rửa, rồi để nét ấy trắng. Mở nó sẽ cuốn nền sân và những đồ chưa kịp dời đi; mọi người chọn bỏ nhánh ấy khỏi đường dẫn chính. Cô giữ dấu trên bản đồ, ghi rõ chỉ được dùng sau khi đã đưa hết người lên bờ cao.
An cầm que ra sân kiểm. Bậc thấp nghiêng về mương, nếu đất bong sẽ kéo cả hàng chum ở hiên đi. Bà Từ yêu cầu đánh dấu cả chân cầu sang bờ cao: chỗ ấy đủ cho hai người, không đủ khi ai cũng ôm đồ chạy. Họ dời chum ngay, kê một tấm ván qua rãnh chân cầu và cho người đi thử. Một bác nằng nặc mang theo bao thóc để thử trọng lượng thật, rồi mắc quai vào mép cửa, khiến cả hàng phải dừng. Bác tự đặt bao xuống, bảo lúc cần thì người qua trước.
Miên dùng than ghi vị trí người gọi ở hai đầu lối, không chỉ vẽ mũi tên lên giấy. An nhận ra cô đang đo thời gian người ta thực sự cần để rời sân. Nó dài hơn anh tưởng. Anh chừa nút mở nhánh phụ đủ xa miệng giếng để người thao tác còn lên bờ được, rồi xin một tấm đồng nhỏ làm dấu. Nét trắng trên bản đồ có địa chỉ ngoài sân và người giữ, không còn là đường anh chỉ ngón tay vào khi bí.
An tính dùng giếng thay kho, nhưng Du Miên chỉ đầu que vào khoảng trắng ở giữa.
— Giếng không chứa được. Chính anh vừa học điều ấy đêm trước.
Anh thôi cố tìm một phép tính khiến người trong kho khỏi phải quyết định. Bà Từ đưa ra một cách khác: dời thóc tới nhà họp, mở kho trong một đêm. Người trông kho hỏi ai chịu phần hao hụt. Cố Kính xin lấy linh thạch dự phòng của trạm đổi thành thóc, trả theo lượng cân trước và sau.
— Còn nhà họp? — một người hỏi.
— Chúng ta họp ngoài sân — bà Từ nói. — Lúa không nghe được mấy ông cãi thì cũng chẳng thiệt gì.
Tiếng cười đầu tiên xuất hiện từ cuối bàn. An thấy vai mình hạ xuống. Cả buổi sáng, anh đã ngồi như người chuẩn bị hứng một mái nhà đổ.
Người trông kho mang cân, yêu cầu cân lại cả bao rách. Thóc giống không chỉ tính số bao. Cố Kính đề nghị lấy theo sổ nhập mùa trước, bị người ấy hỏi nếu trong kho đã hao thì ai nhận phần hao đó. Ông ngừng, đặt sổ sang bên để họ cân thật. An phụ giữ miệng bao cho thóc không rơi, ngón tay đau vì phải xòe. Cậu thanh niên bên cạnh lẳng lặng đổi sang giữ thay, đưa anh việc ghi số.
An hỏi tên. Cậu đáp Lý Vân, mười chín tuổi, vốn tới xin xem cách buộc nút chứ không muốn chỉ khuân thóc. Anh bảo khuân xong sẽ cho thử. Vân nhìn tay bọc vải của anh, hỏi có phải ai học cũng bỏng thế không. An suýt đáp nghề nào cũng đau. Anh sửa lại: không, hôm nay họ cần tìm cách để người sau không phải giữ như anh đã giữ trên trạm. Vân đặt bao xuống nhẹ hơn, ở lại nhìn lúc anh ghi vạch cân cuối.
Họ chia bản đồ thành bảy đoạn. Mỗi đoạn có người đo, người giữ nút và người báo dừng. Chuông không dùng được, Du Miên đề nghị treo đèn giấy dọc các bờ mương. Đèn đỏ nghĩa là quá lực; trắng là chờ; xanh là đã có đường trả. An dạy người giữ nút tháo chỉ theo chiều nào để không kéo lực vào tay.
Anh cho thử bằng một dòng yếu. Người nào chưa làm được thì đổi việc, không bị gọi là kém căn cơ. Một bác nông dân buộc nút mãi không chắc, nhưng nhận ra dòng nước sắp dâng sớm hơn Du Miên nửa hơi thở. Bác chuyển sang báo đèn.
Lần tập đầu, Vân nhìn đèn thứ ba mà quên nhìn người bên mình. Một người khác hạ đèn trắng để thay dầu, cậu tưởng đã được mở. An chộp đầu chỉ trước khi dòng tới, rồi quát sao không chờ. Cậu đứng sững. Miên đặt que xuống, hỏi người thay dầu phải làm tín hiệu nào để không bị hiểu thành chuyển lượt. Không ai đã nói việc ấy. An nghe giọng mình còn gắt, đành cầm đèn làm lại từ đầu.
Họ thêm một cái giá thấp: đèn bảo dưỡng đặt xuống giá, không cầm ngang như đèn chờ. An yêu cầu Vân thử báo dừng khi chính anh đang nối. Cậu ngại, đèn đỏ nâng nửa chừng. Anh bảo nếu đã báo thì nâng cho rõ, rồi tự tháo chỉ theo chiều đã dạy, dù nút chưa xong. Đất dưới chân sáng lên và lắng lại. Vân nhìn thấy dừng không phải làm người thợ giận, nhưng tới lượt kế vẫn hít vào thật sâu trước khi nâng tay.
Cố Kính viết lệnh tạm ngừng nhận thêm linh lực vào kho trạm. Ông để cả dấu ấn và lệnh ở cửa nhà họp. Hai người giữ guồng cùng ký dưới, rồi xin ở lại trên đài khi sửa, vì họ biết từng nhịp của nó.
Sau lượt tập, An cùng Vân đi qua đủ bảy chỗ giữ nút. Trên bàn, các đoạn nằm cạnh nhau; ngoài đồng, giữa hai đèn có bờ mương phải đi vòng và một hàng dâu che mất nửa chiếc đèn treo thấp. Vân giơ đèn thử. An đứng bên kia chỉ thấy tấm giấy trắng phía trên, không thấy tay cậu đang chỉ nút dưới đất. Họ nâng giá lên một đốt tre, rồi thử từ hướng ngược lại để người chạy tin cũng nhìn được.
Tới kho, lối đi đã chật bởi những dụng cụ người trông kho sợ bỏ ngoài sân. An định kê vào góc, chủ kho bảo góc đó phải mở đường trả nếu nóng. Vân lấy than vạch một lối trống trên nền, cùng chủ kho chuyển cuốc và thúng lên gác. Cậu hỏi nếu trong lúc làm có người bước vào tìm đồ thì sao. An nhận ra mình chỉ dạy tháo chỉ cho người giữ nút, chưa nói ai canh cửa. Họ gọi thêm một người không chạm mạch, giao việc giữ lối và gọi người rời kho khi đèn đỏ. Người ấy yêu cầu biết phải gọi sang đâu; Vân chỉ bờ cao đã đi thử buổi trước.
Trên đường về, An nhặt hai cục đất cứng bị giẫm rời, kê lại chân giá. Đầu ngón bọc vải đau nhói, anh giao đèn cho Vân để cậu tự thử từ chỗ người báo thứ ba. Cậu nâng đúng lượt, rồi hạ vào giá bảo dưỡng. An muốn khen nhưng gọi không tới giữa gió. Anh giơ ngón tay, Vân đáp bằng cử động tương tự. Một việc vừa làm được ngoài đồng không cần trở về bàn mới thành thật.
An đến thăm bà Từ khi trời xế. Bà đang may túi vải đựng các tấm đồng nhỏ.
— Cháu vẫn phải giữ nút đầu tiên — anh nói. — Chỗ đó chưa có bể để trả.
Bà đặt kim xuống.
— Đừng bảo ta là cháu nghe được nên không sợ.
An nhìn bàn tay quấn vải của mình. Nếu nút bị dội ngược, cơ thể người giữ nó sẽ thành đường dẫn trong một quãng ngắn. Anh có thể ngắt trước khi hết sức, nhưng dòng sẽ trở lại vết nứt.
— Cháu sợ. Vì thế cháu cần mọi người báo đúng lúc, kể cả phải bỏ một phần việc.
Bà Từ đưa anh thử mở túi bằng hai ngón đã bọc. Anh kéo dây mắc, phải dùng cả cổ tay. Túi đẹp nhưng rút đồng lúc cần sẽ quá chậm. Bà tháo đường may bên, sửa thành nắp gập. An xin để mình phụ, bà đưa phần xâu chỉ, tay bà đã run sau buổi dời thóc. Anh mất hai lần mới xâu được. Hai người ngồi yên dưới đèn, không ai nói sự khéo tay hôm trước sẽ tự ở lại hôm sau.
Miên tới lấy một túi, đặt vào đó giấy khô và que dự phòng. Cô báo nhánh ngoài đồng còn phải vét thêm, chỉ bắt đầu khi người giữ nút tự xác nhận chứ không khi trăng lên tới đâu. An tính mình có thể ngủ một lát trước lúc làm. Bà Từ đẩy bát cơm tới, bảo ngủ khi bụng có thứ đã. Anh ăn nửa bát đầu rất nhanh, nửa sau phải dừng vì bàn tay không giữ được đũa lâu. Miên ngồi đối diện sửa dấu trên bản đồ, đợi anh ăn hết mới hỏi lại tín hiệu trả dòng.
Bà đưa túi đồng cho anh, không nói lời chúc may mắn. Bà bắt anh nhắc lại tín hiệu dừng, rồi nhắc lần nữa, đến khi tiếng anh không còn giống lời hứa làm bà yên lòng.
Ngoài sân, thóc giống được chuyển qua tay từng người. Bản đồ nằm trên bàn, có một góc dính bùn. Du Miên chặn góc ấy bằng cái bát. Không ai còn nhìn nó như một bản vẽ đẹp cần giữ sạch.
Chương 6: Đêm đưa nước ngược
Quyển I — Bảy ngả nước