Chương 37: Bờ lau không đứng yên
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 37 / 86

Chương 37: Bờ lau không đứng yên

Khoảng 12 phút đọc

Quyển III — Mùa bùn thức dậy

Đêm đầu họ ngủ ở bến gỗ ngoài đoạn lạch hẹp. Trầm kéo xuồng lên vừa đủ để tải không đè vào một chân đá nhọn, nhờ An kê dưới mũi rồi mới dỡ phần nước uống. Bó phên nằm lại giữa xuồng, hai đầu buộc rảnh cho vật liệu khô thở. Vân lấy cơm nắm mẹ Thực gói, chia đúng phần ba người mang từ Cồn Sậy; chị có phần cá khô của mình, đổi một ít cho họ ăn cùng.

An tưởng có thể sửa ngay chiếc bản lề hộp mẫu trước ngủ, mới ngồi xuống đã thấy bàn tay lắc theo mặt nước dù chân ở đất. Anh đặt đinh lại vào túi, xin Miên chờ sáng để khỏi giũa chệch. Cô kê hộp vào góc khô, lót vải dưới phần giấy. Bến có mái thấp không đủ cho ai cũng ngồi thẳng, anh nằm sát mép nhìn ra nơi Trầm còn giữ một đầu neo, nghe tiếng chị nói phải đợi hết nhịp này mới buộc ngắn lại.

Trong đêm có một thuyền đi ngược ghé xin than. Trầm nhận ra người bến khác, hỏi luồng trên đã có hàng cọc mới chưa. Người ấy bảo một lối sau bãi đã cạn, phải vòng dưới cây nghiêng. Chị lấy than vẽ lên tấm gỗ bên sào, sửa một nét trên đường dự tính ngày sau. An nhìn chiếc tấm có mấy nét cũ đã được cạo, không giống bản đồ cố định chờ họ theo tới đích.

Sáng đi tiếp, ánh nước hắt dưới phên làm hộp giấy nóng một mặt. Miên dời nó về phía bóng người ngồi, nhận đổi chỗ khi mặt trời sang. Vân giữ tờ tải, buộc một miếng vải nhỏ vào quai hộp để ai đưa tay nhấc cũng biết phải giữ mặt nào cao. An chèo lượt được giao, vai mỏi dần vì cứ muốn xoay nghe phía trái, tới khi Trầm chỉ việc nhìn sào chị đang giữ phía trước để nhận lượt đổi.

Họ vòng qua cây nghiêng như tin đêm. Phía trong lối cũ có một thân cây đổ ngang chưa chìm, chỉ lộ hai nhánh nhỏ dễ tưởng là lau rời. An đưa đầu chèo dò từ xa, cảm gỗ cứng chứ không phải bùn. Trầm đánh dấu vào tấm sào, nhờ Vân ghi nơi cây đứng so với bờ, không lấy một cọc lưới đã trôi làm điểm. Xuồng mất thêm nửa buổi vòng, họ dừng ăn khi có bờ cứng thay vì bỏ bữa để lấy lại giờ đã mất.

Đêm thứ hai ngủ dưới chòi của người bán phên, Trầm nhận giao trước một bó để sáng khỏi vướng lúc vào đầm. Người ấy nhắc phần tiền phên có một góc bị nấm từ chuyến trước, chị xin nhìn mặt hỏng nếu còn giữ. Họ tìm được phần ấy, cắt tách khỏi vật lành, đối lại công rồi trả khoản không đúng. An ngồi ngoài cửa đợi, không giúp bằng cách nói chuyến chị vất vả nên người mua bỏ qua.

Sáng thứ ba mới có bờ Cửa Lau hiện ra. Nó không có đường vào rộng như bến Cồn Sậy, chỉ những khoảng sáng thấp chạy giữa thân cỏ, cứ nhìn tới một đoạn lại khuất. Trầm đứng sào chậm hơn, nói mặt đầm đang ở giữa hai mùa, có chỗ tuần trước còn lối hôm nay đã bồi. An cất bản đường mình vẽ dọc chuyến vào hộp, giữ tờ trắng trên đầu gối, chờ chị chỉ điểm đầu thực sự có thể neo.


Bến đầu tiên trên tờ gỗ đã ở sau một vạt bùn mới. Trầm không đưa xuồng thẳng vào, chống sào thấy phần trên mềm nhưng dưới cấn rễ. Chị lùi ra, vòng thêm qua một mũi đất có cỏ ngả đều, tìm được chỗ mạn tới gần gốc cây còn chắc. Một người trên bờ gọi đã dời bến từ lượt mưa nhỏ trước, đèn cũ chưa kịp mang theo. Chị nhận mình về chậm nên chưa biết, nhờ họ chỉ lối dỡ phên mới.

An bước xuống theo mép ván, một bên giày chìm quá gót. Trầm giữ vai anh từ phía anh nhìn được, chỉ chỗ đặt chân khác chứ không kéo mạnh. Anh dịch được lên mặt cứng, đem bùn vào cả vạt quần. Tiếng cười có từ một đứa trẻ đang đợi bó phên, chị nhờ nó mang thùng nước tới rửa bậc. An ngồi trên ván, tự cười theo vì cả bốn tháng nhìn bãi mặn chưa mua cho mình một bước đứng chắc ở đất khác.

Miên không mở giấy giữa chỗ dỡ. Cô nhờ người bến chỉ khoảng khô đặt hộp trước, lấy dấu từ gốc cây thật rồi mới vẽ đoạn tới ván. Vân chấm vị trí xuồng trên tờ mình mang, định nối thẳng tới căn chòi phía xa. Trầm lấy đầu sào chỉ vạt thấp nằm giữa, bảo chỗ ấy đủ nước cho xuồng rỗng, chưa đủ cho hàng và bốn người. Cậu gạch nét thẳng, vẽ vòng ngoài bằng đường mình đã nhìn thấy.

An mở bản phác ở đêm đầu, thấy đích ba hàng lau được kéo thành một cạnh gần thẳng. Trên mặt đầm, hàng thứ nhất đã nghiêng dưới gió và bị nước tách thành hai cụm; hàng thứ hai chỉ còn gốc, hàng thứ ba bị một bờ đất mới che chân. Anh dùng bút đổi cạnh thành từng điểm thấy thật, chừa khoảng giữa chưa đi. Bản nhỏ trở nên thưa hơn dù người đứng bến vừa chỉ cho thêm nhiều điều.

Trầm tháo dây neo, nhờ người bến giữ lúc họ dỡ. Vân mang đầu dây lên định buộc vào cọc gần nhất, người ấy chỉ vết đất ở chân cọc: cọc đó để treo lưới, đã lún theo bùn, giữ xuồng nặng sẽ nhổ luôn phần đang phơi. Họ đổi sang gốc cây, lót vải dưới dây để khỏi cứa, chừa một đoạn theo mức nước có thể dâng trước khi quay lại. Người bến ở lại nhìn đủ lượt buộc, rồi mới đi lấy người nhận phên.

Một đàn chim sà qua mặt thấp, chân chạm nước gần nơi tờ cũ ghi bãi khô. An hỏi đó có phải đất mới ngập, người bến lắc đầu nói hai mùa trước từng có xuồng đi giữa hàng ấy. Chỉ một câu đã đổi cách anh nhìn mặt cạn vừa đứng: đất không nhất thiết nằm yên chờ nước lên xuống, lòng đầm còn được bồi và khoét qua mỗi mùa. Anh chưa ghi nguyên câu thành quy luật cho cả vùng, đánh dấu chỗ cần trở lại lúc có người nhớ bờ cũ.


Người nhận phên tên Hào, đi từ phía kè ra, tay áo còn rơm vụn. Anh ta đếm bó cùng Trầm, dùng một que nhỏ xem chỗ buộc có lõi ẩm không. Một bó mép xấu được tách tính giá khác như đã hẹn, những bó lành được đưa lên xe nhẹ. An phụ nhấc sau khi xuồng đã có người thay giữ, tới lúc đặt lên mới thấy bánh xe phải đi trên hai đường ván, ngoài đó đất còn lún sâu.

Hào tự giới thiệu nhà ở sau kè, đã nhận gặp người đo nhưng hôm nay phải sửa mái kho. Mưa sắp tới, phên này đủ che phần lúa chưa chuyển. Anh ta nhờ nếu muốn xem ruộng thì đợi mình làm xong, đừng đi một mình để người trong tưởng tới vạch chỗ mở nước. Trầm chỉ An và Miên, nói họ mới tới khảo sát, vẫn có người bên xe hỏi có phải hạ kè không. Tin đi nhanh hơn tên việc họ mang theo.

Miên nhận đem câu hỏi tới nhà họ sau buổi mái, không lấy lời Hào cho đi cùng làm giấy mở mọi bờ. An xếp dụng cụ vào hộp, giữ que thường ngoài tay để đi dò lối, không mang kìm và chỉ tẩm sa ra bãi ngay buổi đầu. Một người già ngồi vá giỏ nhìn bộ đồ, hỏi thợ nghe được đất thì có cần xem sổ cũ nữa không. Anh đáp mình còn vừa đặt chân sai ở bến, xin được xem cả thứ người ấy giữ lẫn nơi người ấy nhớ.

Người già bảo sổ của người trông kho, không phải của mình, sẽ hỏi trước. Họ chỉ một cây có sợi dây bạc màu buộc cao trên thân, nói ngày trước ranh đầm ở dưới ấy. An nhìn khoảng ruộng sau kè xanh thấp, không thấy được chỗ nào từng là lòng nước từ một thân cây. Anh nhờ Miên giữ vị trí trước, để câu chuyện còn nối được với nơi người kể đang chỉ mà chưa biến thành một lệnh phải trả cả ruộng về đầm.

Trầm nhận tiền phên, mua ít gạo ở bến rồi mới mời nhóm về chòi. Phần công dẫn đường khảo sát buổi đầu cũng được tính riêng, có giờ chị phải tới xem lưới chiều. An đưa đủ phần đã nhận trên xuồng, không chờ tới lúc biết đầm có sửa được mới trả người đã đưa họ tới. Chị cất gạo bên sào, hỏi mọi người có đi bộ được đoạn cuối hay cần gửi đồ lại chờ xuồng nhỏ.

Họ gửi phần nặng, mang giấy và đồ ngủ theo lối đi. Hào dừng xe nhờ giữ giúp một đầu ván bị trượt, An cùng Vân nâng vào đúng rãnh, thử tới lúc bánh qua hết rồi mới buông. Anh nghe tiếng người bên trong gọi mái còn một góc hở, thấy một đứa trẻ chạy về giữ thúng rơm. Phía sau bờ thẳng có bữa ăn, mái kho và những cái chân đang phải đứng trên đó, không chỉ có một nét làm dòng ngoài đổi.


Đường tới chòi đi vòng qua ba khoảnh nước có màu khác nhau. Chỗ cỏ thấp, An nghe rung dưới que chậm và nặng, nhưng không nối thử, ghi chỗ cùng giờ cho lượt đo sau. Trầm chỉ nơi có thể đặt chân nghỉ, rồi dừng ở một nhánh đã bị cây ngả che. Chị thử sào từ đất cứng, nhận bùn sâu hơn lần về trước, đưa họ vòng thêm lên bờ cao thay vì đi theo chính bước mình nhớ.

Vân đặt cuộn giấy lên lưng một gốc cọc để rút dây giày, An nhắc cậu giữ trên tấm lót. Cậu nhấc lại ngay, nhìn đầu cọc đen đã mòn ở một cạnh, hỏi sao nó nằm giữa phần đất trông như ruộng. Trầm bảo đó là một trong những cọc cũ, người trong kè có thể kể rõ hơn. Chị không nhổ đem về làm vật chứng, lấy dây mảnh buộc lỏng phía ngoài để nhóm tìm lại, chừa nguyên dấu mòn cho người tới xem.

Gần chòi, một tấm phên sàn đã mục làm mép cửa võng. Trầm đặt gạo xuống, thử bằng sào rồi xin mọi người đứng ngoài để kê tạm trước. An nhận giữ đèn sáng dưới chân chứ không lấy nghề nối làm phép chữa gỗ. Họ chọn hai thanh còn chắc trong đống đã phơi, đặt qua gối cũ, bước từng người không ôm hộp nặng cùng lúc. Tới khi cửa đứng đủ, chị mới đem gạo và đồ ngủ vào.

An chọn chỗ ngồi nhìn được cửa lẫn người nói, để bên tai phải quay vào gian. Chòi hẹp hơn gian lò, gió lùa qua phên mang mùi cây sống lẫn bùn kín. Miên mở tờ bến, hỏi chiều mai Hào có thể dẫn xem phần ruộng không. Trầm nhận sang hỏi đúng giờ họ rảnh, bản của nhóm sáng nay mới có lối tới đây, đừng gọi nó thành hình đầm trước khi đi thêm.

Vân trải tờ của mình cạnh tờ An, hai đường cùng đi một chuyến vẫn lệch ở chỗ vòng mũi đất. Cậu lấy bút định xóa nét mình, An giữ lại, nhờ ngày mai cùng tới điểm ấy đo từ một gốc chắc. Có thể người ngồi đầu xuồng thấy một mặt khác, cũng có thể một người nhớ sai. Giữ hai nét qua đêm không làm giấy đẹp, cho họ một chỗ cụ thể cần quay lại thay vì một bản thẳng vừa mắt hơn đất.

Trầm đun nồi gạo nhỏ, chia cá khô còn từ chuyến đi. Tiếng mái kho phía kè thỉnh thoảng vẫn tới trong gió, An chỉ nghe rõ khi quay đúng bên. Anh ăn, buồn ngủ vì hai đêm trên bến, không đem mệt thành cớ quyết lối mới có vẻ gần hơn. Ngoài cửa, hàng lau nghiêng rồi đứng lại, để lộ một khoảng nước khác sau mỗi lần gió đổi; tờ bản nằm yên dưới bát, còn đầm chưa từng nhận đứng yên cho họ vẽ.

Trang sách tiếp theo

Chương 38: Người ngủ trên chòi

Quyển III — Mùa bùn thức dậy

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!