Chương 10: Một chiếc gàu trả chậm
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 10 / 86

Chương 10: Một chiếc gàu trả chậm

Khoảng 12 phút đọc

Quyển I — Bảy ngả nước

Chiếc gàu An đã trả về Đá Bạc nằm nghiêng dưới gốc mận, đáy hứng một ít mưa cũ. Anh nhận ra ngay vết đen do túi linh sa từng cọ vào thành. Quai đã tuột một bên, dây buộc tạm bằng sợi lạt không giữ nổi lúc gàu đầy. Ông lão đang dùng cái chậu nhỏ tưới gốc bên cạnh.

An tới đối lại những dấu cây chết Miên đánh sau trận mưa thứ ba. Nhìn chiếc gàu, anh đặt hộp đo xuống trước khi chào, ngồi kiểm quai. Vành gỗ bên chỗ tuột đã mềm. Anh nhớ mình từng chất cả kìm và đồng vào đó, để nó cạnh bàn suốt những ngày sau đêm vá.

— Cháu mua cái khác — anh nói.

— Ta hỏi cháu mua lúc nào?

Ông lão đặt chậu xuống, chỉ phần gỗ đã sẫm cả phía trong. Gàu có từ trước khi con gái ông lấy chồng, quai từng sửa hai lần. Đừng gom mọi thứ hỏng trong vườn vào số việc người thợ chuông mắc nợ. An nghe, mặt nóng vì đã muốn lấy một món mới thay cho chuyện chưa hỏi rõ. Anh xin sửa để ông dùng được, không mang nó đi khỏi vườn nữa. Ông lấy một chiếc ghế con đặt cạnh gốc, nói sửa ở đây còn giúp giữ chậu khi cần.

Miên tới sau, đang cùng người đàn bà mang thúng mận khô hôm trước đếm những cành đã bỏ. Cô không nhập ngay vào việc quai. Cô hỏi ông muốn kiểm cây nào trước, vì sáng nay chỉ có giờ tới trưa. Người đàn bà đưa mảnh vải buộc ở ba gốc: một gốc chắc đã chết, hai gốc lá còn xanh nhưng cành rỗng. An theo họ, để chiếc gàu lại trên ghế. Một lần đem thứ hữu ích về chỗ mình rồi quên trả đã đủ.

Ông lão đưa chậu cho anh, nhờ tưới cây sát bờ đúng nửa chậu. An nhìn giếng đầy hơn trước, suýt hỏi sao chỉ nửa. Mặt đất dưới gốc đã đen nước, trong khi cây bên cạnh còn trắng khô. Miên đang đặt que tại giữa hai vùng, chưa có kết quả để trả lời thay ông.


An áp tấm đồng mỏng vào vỏ cây, dùng que đỡ để khỏi phải giữ lâu. Rung đi lên một đoạn ngắn rồi lắng. Anh nghe bằng tai phải, quay cả người cho cùng phía, vẫn không biết phần lắng là cây hết lực hay vỏ chết làm tiếp xúc kém. Anh xin ông lão chỉ một cây còn khỏe để đối. Ông dẫn qua hàng ngoài, dừng ở cây có gốc bị đứa cháu khắc dấu từ bé.

Tiếng ở đó rõ hơn. Nhưng cây khỏe đứng trên đất cao, khác gốc đang xem. Miên cắm que bên cạnh cả hai, ghi riêng độ sâu, không lấy một dòng làm bằng chứng rằng mọi gốc thấp đều đã hỏng. An nhờ cô nói lại lúc gió dồn qua lá. Cô chuyển sang phía phải, đọc đủ hai kết quả. Đất quanh gốc yếu giữ lực không đều; ở sát rễ cái còn một túi ẩm, ra ngoài vài gang đã hụt.

Người đàn bà cầm thúng xin đào rộng để linh khí vào tới hết. An quỳ xuống, dò bằng cán gỗ, thấy lớp đất bị nén cứng từ những ngày người trạm đặt ống. Anh có thể nối một đường mảnh vòng qua, nhưng chưa biết rễ sống còn nằm ở đâu. Ông lão gạt lá, chỉ chỗ nứt rất nhỏ, bảo mùa trước rễ mới nhú ở đó. Đào theo đường An vừa định sẽ cắt ngay qua phần còn khỏe.

Họ chỉ mở một rãnh thử ngoài mép tán, sâu tới lớp rễ nhỏ mà chủ vườn nhận được. Người đàn bà không thích chờ. Bà nói cây đã chờ đủ lâu khi người trạm cứ bảo cuối mùa, giờ ai cũng bảo thử. An ngồi ở rãnh, không có câu nào khiến chờ bỗng thành nhẹ. Anh đề nghị bà chọn một gốc để thử trước, giữ nguyên gốc cạnh bên làm đối; nếu lớp đất không nhận, họ tháo lại trước khi đi, không nối thêm vì tiếc công.

Bà chọn gốc lá ít nhất, không chọn cây còn có thể ra quả. Miên hỏi lại để chắc bà hiểu thử có thể không giúp. Bà gật, tự đánh dấu vải xuống rễ đã chỉ. An buộc nút vào một mảnh kê gốm cũ, đưa dòng rất yếu từ đất ngoài vào rồi trả lại mép rãnh. Không có ánh sáng leo lên tán. Miên nhìn mực, ông lão nhìn đất, người đàn bà nhìn ba chiếc lá còn quăn. Mỗi người chờ một dấu khác nhau.


Dấu đầu đến từ chậu nước. Ông lão rót phần nửa chậu còn lại, nước không loang hết mà tụ ở một hõm giữa rễ. Miên nhấc que, đo bên kia hõm. An nghe tiếng rít ở đầu chỉ, nhỏ nhưng đi nhanh hơn lúc vừa nối. Đất phía dưới đang trả lực về một đường cũ, kéo theo nước qua chỗ người trên mặt không thấy.

Anh tháo nút thử, để mọi thứ trở lại như trước rồi đi cùng ông lão xuống bờ thấp. Giữa vườn và ruộng bên có một rãnh đã mọc đầy cỏ. Ở miệng rãnh, đất ướt lạnh dù hai hôm nay không mưa. An cúi gạt cỏ, tiếng linh khí trở lại qua đoạn gốm gãy ngang. Nó không thuộc ống hút mới của Bạch Đài. Gốm đã cũ, mép cặn dày; đây là đường trả người vườn từng dùng trước khi mặt ruộng phía dưới nâng cao.

Một người phụ nữ chống cuốc từ ruộng đi lên, bảo đừng mở. Bà là Diên, chủ khoảnh lúa chân thấp sát vườn. Nước đang đọng tới nửa gốc lúa, mở rãnh trên sẽ dồn thêm vào. Bà hỏi có phải tổ vá vừa trả nước cho giếng, giờ định lấy ruộng bà làm cái chậu nữa không.

An đứng lên khỏi miệng gốm, chìa hai tay để bà thấy chưa có chỉ nối. Anh kể nút thử ở một cây đã tháo, đường cũ ở đây đang bị đất ruộng giữ lại. Bà Diên không cần chuyện cây mận. Bà cần lúa khô chân trước lúc cắt. Ông lão đặt chậu xuống, nói ruộng nâng từ mùa nào. Bà đáp sau trận đá lở, bùn dồn vào, nhà bà tự đắp bờ giữ giống vì khi ấy không ai còn giờ tới đo.

Miên đi dọc bờ, xin phép cắm que tại hai điểm. Bà Diên cho cắm, không cho đào. An đứng ngoài ruộng chờ, thấy mình vừa đi từ một chiếc gàu sang hai nhà có hai kiểu hỏng khác nhau. Mở thẳng đường cũ có thể giúp gốc mận thoát phần lực thừa, làm lúa ngập thêm. Giữ nguyên khiến vườn có túi ẩm và mảng khô sát nhau. Không ai cố tình dựng chuyện ấy để cãi với ai.

Kết quả của Miên cho thấy phía cuối ruộng có đường thoát còn yếu, không biết vì lấp hay vì chỉ nhận được theo từng đợt. Bà Diên chỉ dọc bờ tới gốc thị cạnh đường nối hai xóm. Qua đó là mương chung; bà có thể cho đào phần ruộng nhà mình, không thể nhận thay những người giữ con đường. An nhìn bóng thị rộng, thấy có ba vệt xe ép sát nơi rễ nhô. Nếu chỉ tính chiều dài từ ruộng tới mương, anh sẽ lại mang một nét thẳng về bàn và buộc người khác chỉ ra phần mình đã bỏ sót.

Anh nhờ bà giữ nguyên chỗ gốm gãy, đừng lấp để khỏi ai vấp mà quên mất dấu. Bà lấy cọc tre cắm hai bên, chăng sợi lạt từ cán cuốc dự phòng. Người đang gặt xa nhìn tới hỏi có việc gì. Bà tự báo họ sẽ mời người giữ mương cùng xem, không bảo thợ đã nhận làm. An cất mảnh giấy vừa định dùng đo dài, để buổi tới bắt đầu bằng những người thật có quyền mở lối.

Bà Diên muốn họ làm ngay, lấy tiền bán lúa trả sau. An đã mở miệng định đồng ý. Miên cuộn tờ đo đang dùng, nói hôm nay họ chỉ nhận kiểm vườn tới trưa. Bà Diên quay đi như bị từ chối thêm lần nữa.

An gọi lại, xin tới xem trọn tuyến vào ngày mai, trước khi hứa một cách sửa. Nếu bà muốn thuê, họ phải nói rõ việc gì đo trước, việc gì mới tính tiền sửa, và lúc nào phải dừng. Bà chống cuốc, hỏi có phải chuyện nào cũng phải ngồi bàn. Anh nhìn đoạn gốm nứt, đáp chuyện mở một đường rồi làm hại nơi khác anh đã thử một lần. Bà không biết đêm ở Hạ Ngạn, cũng không cần biết để được giữ ruộng. Bà chỉ chấp nhận giờ tới, yêu cầu đừng làm bà bỏ cả buổi chợ ngồi đợi.


Họ trở lại gốc thử. Người đàn bà mang thúng vẫn đứng đó. An chỉ cho bà đầu nối đã tháo và lớp đất vừa đặt lại, không nhận đường ra ruộng là lời giải đã tìm thấy. Bà hỏi gốc này còn sống không. Anh đáp không đủ biết, đề nghị giữ dấu và xem lại sau một quãng đã định cùng người vườn. Ông lão chọn qua bảy ngày, vì tới đó mới xong lượt tỉa cành còn lại.

Miên đưa bà bản chép riêng có hình hai gốc, một bên đã thử, một bên chưa. Cô chừa chỗ ghi lá rụng, không dạy bà phải nhìn cây theo cách người đo mới gọi là đúng. Bà cầm tờ, hỏi nếu hết bảy ngày vẫn thế thì sao. Cô bảo sẽ đối lại phần đã đo, không lấy bảy ngày làm lời hẹn cây phải hồi. Bà gấp giấy vào thúng, không cảm ơn nhưng nhận giữ tấm vải ở gốc.

Chiếc gàu còn trên ghế. An lấy đục nhỏ, bỏ phần gỗ mềm quanh lỗ quai. Nếu chỉ đóng đinh mới vào chỗ cũ, nó sẽ tuột khi đầy. Anh tìm mảnh gỗ cứng trong đống cành đã bỏ, ông lão ngăn: gỗ mận vừa cắt chưa khô, đừng thấy tiện mà dùng. Ông vào kho lấy một miếng nẹp cũ dành sửa cửa, để An chọn phần còn nguyên.

An làm nẹp ôm ngoài vành, khoan hai lỗ xa mép mềm. Tiếng khoan tay lẫn tiếng người ngoài ruộng, anh không đo được bằng tai mình xem lỗ đã xuyên hết chưa. Anh nhờ ông giữ mảnh gỗ phía sau, báo khi mũi vừa chạm, rồi rút ra xem bằng mắt. Hai người làm chậm, giữa chừng phải nghỉ vì ngón tay An tê. Ông lão lấy chậu tưới nốt hàng cây ngoài, không ngồi canh anh như người trông một món nợ.

Lắp xong quai, An chỉ đổ nửa gàu, thử nhấc sát đất. Nẹp giữ được. Ông lão thêm nước, đòi chính mình thử vì vai ông đặt lực khác người trẻ. Gàu nghiêng, một mép dây cọ nẹp. An đánh dấu rồi giũa lại, trả cho ông ngay tại gốc. Chiếc gàu không mới hơn, vẫn có vệt linh sa đen, nhưng người dùng biết nó đã được thử với tay mình.

Trên đường về, Miên hỏi An sẽ tính tiền ngày mai thế nào. Anh kể số đồng còn lại trong túi, trừ chỉ đã mượn cô và công phải đối với Vân. Càng kể con số càng nhỏ. Cô bảo mình cũng có giấy, mực và thời gian phải trả, không thể cứ đi cùng vì trong ruộng có người đang khổ.

An nghe hết, quay tai phải về phía cô khi đi qua đoạn gió. Anh muốn nói biết rồi, nhưng những buổi vừa qua chứng tỏ mình chưa biết. Anh xin tối nay cùng xem một lần tiền vật liệu thật, để mai không hứa bằng số tiền chỉ tồn tại trong đầu. Miên đồng ý, hẹn sau khi cô giao tờ đo của ngày cho người giữ sổ.

Tới nhà họp, An không cất dụng cụ vào cái gàu nào khác. Anh trải tấm vải, xếp riêng đồ đang dùng được, đồ phải sửa và cuộn chỉ còn thiếu. Chỗ trống lớn nhất nằm ở giữa, nơi anh thường đặt những thứ mượn rồi tự coi là của mình. Anh để nguyên khoảng ấy, lấy giấy ghi tên từng người cần trả trước lúc đi xem ruộng ngày mai.

Trang sách tiếp theo

Chương 11: Tiền công trên mặt bàn

Quyển I — Bảy ngả nước

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!