Chương 32: Mắt lưới dưới bờ
Quyển II — Dưới đồng muối
Vân đợi An ngoài lò khi trời vừa rõ, áo khô nhưng hai ống quần còn sẫm bùn. Cậu đã đi báo từ bờ, không chạy qua lối cạn còn tối. Đầu ngoài giảm nhả trong ca cuối, người giữ đã hạ mức nhận tổng về chờ, chưa mở lại kênh cũ. An nghe cậu đọc đủ lượt giữ rồi mới lấy túi. Anh muốn đem cả hai kìm, nhìn dấu tải của bộ đồ lần trước, chọn một kìm với đầu đẩy gỗ có thể dùng từ bờ.
Miên đang thay dải vải ở gót chân, nhờ họ tới trước, mình theo lối cao sau. Cô đưa Vân tờ nền cuối cùng để mang ra đối, dặn giữ riêng lượt ca đêm đã có báo. An nhìn chân trầy, hỏi có cần người nhận đo thay một lượt. Cô gọi bác Kha cùng đọc ở điểm gần bờ, tự giữ phần giấy tại nơi có thể ngồi. Cách chia lại ngắn hơn đường anh đang định bảo cô cứ nghỉ hết hôm nay.
Ở cửa chốt, mẹ Thực ngồi trên ghế thấp, chìa còn buộc trong túi. Bà đã đợi người báo tới đủ, không xoay chỉ vì thấy miệng gốm ngoài kia bớt sáng. Thực đang kiểm mặt đất lấp, An cùng anh ấy đi dọc tới hết đoạn, không thấy nước xói mặt. Dấu sâu bên rau chưa vượt, đầu vào giữ thấp đã cho họ thời gian nhìn đường trả thay vì chạy theo một bờ đang dâng.
Phía ngoài, nước có một đường vòng rất mảnh quanh chân kê. Bác Kha chỉ đúng chỗ trước đây từng nhấc cọng lau, hôm nay dưới mép là một lớp xám có cái gì giãy nhỏ. An đặt gỗ lên đầu nhận để nghe, nhịp giữ dài hơn lượt chiều qua. Anh giơ tay giữ mức chờ, nhờ Vân gọi người dùng lưới tới trước khi đụng vào vật đang căng dưới nước.
Chị Sâm xuống bờ với một giỏ tre, nhận ngay tấm lưới của nhà mình. Hôm cho đặt đường chị đã chừa lối ngoài, nhưng dòng mới kéo mép vào khoảng hẹp giữa chân kê và rễ. Bùn bám từ dưới, thân lau trôi mắc lên trên; mấy con cá nhỏ chui tới được rồi không qua khỏi mắt lưới ép sát mặt gốm. Chị không giật. Chị cởi nút giữ ngoài bờ, cho phần căng chùng xuống trước, bảo An đỡ chỗ gốm chứ đừng kéo lưới qua chân.
Anh làm, tay kia giữ đầu đẩy ngoài phần nhận lực. Vân chuyển chiếc giỏ tới khoảng trống chị chỉ. Từng mảng bùn rời ra chậm, một con cá tuột khỏi khe, phóng vào rễ. An thấy miệng gốm nhẹ nhịp, muốn dùng cán cào sạch nốt. Chị Sâm đặt tay lên cán, chỉ con còn mắc vây dưới một cọng cỏ. Chị gỡ bằng đầu que nhỏ, để nó tự vào nước chứ không ném qua bờ cao.
Lưới được kéo ra hết, tấm dưới nặng bùn hơn tấm chị hạ hôm trước. Sâm trải trên cói, xem vết rách ở hai mắt, gọi đó là phần cần vá trước khi đánh lại, không phải một món đồ tiện đường bỏ đi cho công trình sạch. Nghiêu vừa tới nhận cùng chị xem chỗ vật tư có thể bù sợi và công. An ghi việc đường mới đã kéo lưới vào chân, không ghi lưới vướng như một lỗi người đánh cá tự mang tới.
Khi miệng ra thông, phần nhả trở lại sớm, nhưng những con cá phía ngoài vẫn quay trong một khoảng nước xoáy nhỏ. Sâm dùng vỏ giỏ che nắng, chỉ cho An thấy chúng tránh phần chảy xiết sát chân. Lối của cá rộng hơn một mắt ra sạch. Anh ngồi xuống nhìn cả mặt rễ, nhận ra đẩy lưới xa thêm sẽ giữ đồ khỏi mắc, chưa chắc giữ được đường chúng đang tìm từ trước khi hai đoạn gốm được đặt ở đây.
Anh đề nghị dựng tấm đan phía trước để chặn cỏ, rồi dừng ở chính câu mình vừa nói. Nếu đủ kín cho cỏ khỏi vào, nó có thể giữ cá trước khi tới phần rễ. Sâm lấy một sợi khỏi giỏ, căng thành đường để anh thấy mặt nhận sẽ nằm ngang cả lối khi nước trở. Họ chưa đào thêm, chỉ đánh dấu hai bờ cứng và khoảng rễ cần giữ, đưa bản về phần đất khô có thể cùng vẽ.
Thực đem đòn gánh nằm ngang chỉ bề rộng đường đi cạnh rãnh. Mở thêm khe qua đó sẽ bắt người gánh bước một khoảng, không thể vẽ rồi bảo họ tự vòng. Mẹ anh muốn kê một miếng ván, Sâm nhắc lúc nước cao ván thấp sẽ làm cỏ đọng ở bụng. An đặt ba cọc nhỏ mô tả mặt mới, nhờ mọi người đi thử đường gánh trước khi bàn phần nước dưới.
Họ chuyển chân kê về bên đất cao hơn, mở một khoảng nông rộng qua mặt rễ thưa đã được chủ bồn nhận. Nước thường có thể đi qua đó, đường nhận lực giữ lệch sang bên, các đầu trả không ép tất cả vào một cửa nhỏ. An xin khoét ngay bằng cuốc, Miên vừa tới bảo cần đặt que cạnh gốc sống trước. Cô ngồi trên tấm kê, nhận giấy từ Kha, cùng chị Sâm chỉ những chỗ chỉ được nhấc bùn mặt.
Lần mở đầu có một búi rễ mắc ngang. An dùng mũi gỗ tách bùn, thấy rễ nằm sâu dưới cả hai bên bờ. Cắt sẽ cho khe đẹp, cũng lấy mất thứ đang giữ chân. Anh trả lại lớp bùn sát rễ, nới sang bên thêm một đoạn. Đường cong làm tốc độ ra bớt đều; Sâm đặt giỏ ở đầu cuối để nhìn nước và cá, không chỉ nhìn phần sáng trên gốm. Một con nhỏ qua trước, cỏ xoay theo nó rồi tách khỏi mép ngoài.
Vân nhận giữ cọc ở đầu gánh, báo người thử bước qua. Một quai giỏ chạm cọc báo, kéo vải xuống thấp. Cậu sửa chân cọc ra ngoài lối chân, thử lại với hai người đi ngược. Khe rộng vừa tạo không được giữ bằng việc làm lối người chật tới mức đêm nào cũng có người ngã. An lấy ván kê cao hơn, để chân không nằm ở phần nước đang thoát, nhờ mẹ Thực chọn chỗ đi dễ nhất lúc mang nặng.
Lần bà bước tới giữa, đầu ván bên ngoài nhấc nhẹ vì chân kê mới đặt lên cục đất còn mềm. An đang đứng phía dưới, thấy gánh nghiêng thì đưa tay muốn giữ. Bà đã dừng, hạ một đầu gánh lên bờ gần, bảo anh lui khỏi chỗ ván có thể trượt. Họ nhấc cả tấm lên, xúc lớp đất mềm ra tới mặt chắc rồi kê lại, không chèn thêm một viên đá trên phần vẫn tiếp tục lún. Bác Kha nhận kiểm hai dấu chân ván cùng lượt đọc cọc. Mẹ Thực đi lại bằng gánh còn đủ trọng lượng, tới bờ kia mới cho người khác bước theo.
Đầu nhận tổng được nâng lại tới mức thấp cũ. Dấu cuối không còn giống hôm trước: một phần lực theo nhánh rộng và tầng đất bên rễ, không đi cả vào đoạn họ dùng điều chỉnh giếng. An đọc chậm, đề nghị chờ thêm qua khoảng trễ. Miên đối hai lượt, cùng Kha thấy mức dùng cho giếng phải hạ để đường trả giữ được khoảng rộng. Thước chỉ xác nhận nhả đã bớt dồn, nó không làm phần chia đi trở thành phần vẫn còn cho cả hai việc.
Tới khi mặt lạch chạm vạch cao, người giữ ngoài báo hạ trước lúc nước vào tới chân gốm. An đứng lùi xem bác Kha thực hiện, Vân chờ sau đèn với đường gọi về cửa chốt. Bác hạ đầu nhận, giữ trả cho tới lúc giấy của Miên về đúng dải rồi mới chạm chốt tháo. Lối cá còn mở qua phần nông, còn đoạn điều chỉnh giếng nghỉ trong kỳ cao. Nghiêu ghi thêm giờ ngừng ấy vào mức dùng theo ngày. Một mức thấp khi chạy và một khoảng buộc nghỉ phải đứng cạnh nhau, nếu chỉ ghi dòng lúc sáng thì tối đến người giữ lại phải mang tiếng làm ít hơn điều đã hứa.
Nghiêu lấy que đặt vào dấu hẹn ban đầu, nhìn khoảng thấp hơn trên bản mới. Ông hỏi có thể bọc nhánh rộng bằng gốm cho lực khỏi ra đất không. An đo bề ngang, biết cần thêm vật liệu và sẽ tạo thêm một mặt cứng ngay đường cá đi. Họ chưa có mẻ đủ thử việc ấy, cũng chưa biết mùa cá tới khác mùa này ra sao. Anh hạ que hẹn tới mức đã đối được, nhận giữ lựa chọn thấp trước thay vì dựng một lời hứa mới lên chỗ vừa phát hiện thiếu.
Buổi chiều, những nhà góp giếng tới xem dấu đã hạ. Một người hỏi từ lúc lấp kênh tới nay chỉ thấy ít đi, có thể trả lưới về chỗ cũ rồi dùng lại mức hôm qua không. Sâm mang tấm rách đặt bên chân, nhưng không chỉ nói về sợi của mình. Chị chỉ mặt bùn còn mới, kể cá tới đợt này chưa phải đợt nhiều nhất. Nếu giữ miệng ấy cho đủ phần trên giấy, lần mắc sau có thể tới giữa ca không ai nhấc nổi bằng một cán gỗ.
An nhận trước hôm lắp mình chưa thử lối cá với dòng mới. Anh cùng Miên sửa mức dùng trong phần đã ký, để các nhà có quyền xem lại lựa chọn. Tiền cho ca theo dõi không bị cắt trước, vì chính ca ấy đã báo được chỗ nghẹt khi bờ còn yên. Phần công chỉnh phát sinh nhóm nhận trong phần lời còn lại, chưa xin những nhà đã nhận bù vụ đem lúa trả ngược để đủ tiền làm tiếp.
Người ở giếng xa vẫn muốn lấy phần chưa dùng về mua nước, Miên đếm trả theo khoản họ chưa nhận làm, ghi rõ phần khảo sát đã thực hiện. Người ấy cất tiền, chọn để một người nhà theo xem giờ ca cuối dù chưa góp thêm. An đưa bản giờ, không yêu cầu giữ tiền mới được nhìn công trình. Một phép đo càng hẹp càng cần người ngoài biết chính nó hẹp ở đâu, nếu không lời truyền tới giếng xa chỉ còn thành đã sửa xong mà không cho họ nước.
Sâm nhận công vá lưới và sợi thay đúng phần rách. Chị không nhận tiền cho những con cá đã mất vì không biết lượng, yêu cầu những lượt sau được nhìn khe trước khi hạ lưới lại. Nghiêu xin ghi cả giờ mất việc thật, để việc chưa tính được cá không biến thành chị đã đứng cả buổi giúp miễn phí. Chị xem, đánh thêm một khoảng mình trở về buộc giỏ rồi mới nhận phần công có thể đối.
An nhờ Thoa đem tấm đan mình đã định dùng ra thử trên bờ khô. Hai người đổ một ít lá với nước rửa không mặn qua, lá dồn đúng ở phần thấp, nặng lên nhanh hơn mắt anh tưởng. Chị giúp tháo lại, cất vật liệu chưa dùng nguyên để mai có việc khác, không đem lắp xuống chỉ vì đã làm mất một buổi. An giữ hình mắt đan trên tờ cạnh lưới rách, viết cần người nhìn ở cả hai phía khi thử vật chắn về sau.
Khi họ ra bờ lần cuối, mẹ Thực đang đi qua ván mới với một gánh nước ngọt mua. Ván kêu nhẹ, hai chân còn đứng yên. Dưới đó, một đám cỏ rời xoay qua khe rộng, không mắc ngay vào chân gốm như lúc sáng. An cùng Vân đợi nó đi hết, rồi nhận ca sau bằng mốc giờ, không coi một đám cỏ qua được là đã biết đủ mùa.
Miên ngồi trên bậc cao chép dấu, chân bọc vải đặt trên một thanh gỗ khô. An hỏi cô có cần mình giữ hộp về trước không. Cô giao phần cuộn đã khép, giữ hai tờ đang đọc trên đùi, hẹn anh gặp ở bữa. Anh mang cuộn về qua lối ván, nghe tiếng nước bên phải rồi quay mắt nhìn cả phía trái trước khi bước xuống. Sau lưng, chị Sâm đã giăng lưới ở chỗ mới nhận, chừa nguyên khoảng rễ chưa bị cắt, đứng đợi một lượt nước khác tự tới.
Chương 33: Hạt muối trong mối nối
Quyển II — Dưới đồng muối