Chương 62: Hốc đá không cho lửa
Quyển IV — Con đường không có trạm
Ngày làm việc thứ hai của Nghiêu ở núi bắt đầu bằng việc đi xem nơi mẫu đã lấy. Dậu dẫn nhóm tới bậc ngoài trong ca đã hỏi trước, Độ giữ đường đứng, Miên nhận ở điểm nhìn cùng người ghi. Chị đã nhận ở sân dưới hai đêm có tiền chỗ; buổi trả mẫu cả nhóm sẽ ngủ một đêm ở bãi, nơi đã hỏi thuê từ trước. Vân mang khay rỗng, chưa mang lửa hay đất mới tới. An đưa Nghiêu xem vết tách trên mặt rời, khoảng đã tới và khoảng mình chưa có nền để bước qua, để người thợ gốm không phải dựng cả hốc bằng một tấm đẹp nằm giữa bàn.
Nghiêu cúi ở chỗ được nhận, sờ mặt khô bằng gỗ, hỏi nước thấm vào từ đâu. Dậu chỉ đường mưa và phần dưới lá, không nhận biết nó đi sâu hết những nhánh nào. Mạch lạnh trong khe hiện mỏng, chỗ ánh nằm sát lớp tối, tay qua cán nhận một phần giữ kéo lâu hơn mặt đá ngoài nắng. An đọc giới hạn từng dụng cụ, Nghiêu nhìn thước rồi hỏi điều gì do ông chạm, điều gì đã có trước khi ông cúi xuống.
Độ dẫn họ về theo đúng bậc cũ. Một chỗ ướt khiến Vân đặt khay sang tay khác trước khi bước, Nghiêu đứng chờ chứ không với nhận nửa chiếc giữa hai nền. Không ai lấy chuyến xem làm dịp lượm thêm cả khối từ vách. Dậu đã nhận cho lấy lượng thử ở mảnh rời, phần thay cho thanh nhà cần trả cũng còn trong lịch. Mẫu của một người nghèo không vì cho thợ xem đã thành thứ tổ được phép đốt tới hết.
Ở sân, Nghiêu đề nghị thử làm kín mặt ngoài để giảm nước thấm qua lớp, cách ông từng làm với gốm. Ông nói rõ đó là một đề nghị từ nghề mình, chưa biết đá chịu nung sơ hay không. An muốn thấy cách ấy, Vân hỏi nếu lớp bên trong giữ khác nhau, có phải men kín sẽ che mất chỗ đang đọc. Nghiêu đặt tay khỏi miệng khay, nhận cần một mẫu không phủ và một mẫu giữ nguyên cả mặt trước khi đụng tới lửa.
Họ chọn những mảnh nhỏ cùng phần tách đã ghi, giữ một miếng nguyên làm đối, không cắt tất cả bằng một kiểu rồi quên đường lớp cũ. Miên đánh mặt và cạnh trước khi giao, Độ nhận khay theo tên. Người giữ lò rèn sân dưới cho dùng khoảng ngoài của một lượt đốt đang có, ông giữ lửa và giờ nguội; Nghiêu không tự nhận tay mình từ lò gốm đã đủ quyền đổi cả bếp người khác giữa ngày họ đang làm.
Mảnh đầu được làm ấm trong khay riêng, chưa phủ gì. Một cạnh sẫm đi, không phải men chảy mà đường rất mảnh mở dọc theo lớp. Người giữ lửa hạ bớt phần nhận nhiệt của khay, để nó nguội tại chỗ đã chọn, không thả nước cho nhanh. Nghiêu nhìn qua khoảng che, gọi Vân ghi lúc thấy rạn. Cậu ghi rồi giữ mảnh còn lại chưa vào lửa, không cần đợi hết số đã định mới được coi là đủ một lần thất bại.
Khi nguội đến điều kiện cầm thường, họ vẫn chưa nối ngay linh lực. An nhìn mặt rạn, thấy một lớp đã bong sát chỗ định đặt đầu trả. Nếu ép nó bằng kẹp rồi đem đối như nguyên, tay kẹp sẽ là một phần mới. Nghiêu chỉ dùng mẫu ấy xem vết sau làm ấm, nhận cách này đã đổi cấu trúc muốn giữ. Ông không đề nghị tăng lửa để vết rạn hết lộ, bởi nung kín một bề mặt không làm lớp trong chưa tách lại.
Ông giữ mảnh trên tay gỗ, im lâu hơn mọi người đợi. “Gốm của ta chưa đủ hong cũng từng nứt,” ông nói. “Ta nhìn cái ẩm ở đây là muốn đẩy nó ra trước.” Dậu nhấc một mẫu chưa làm khỏi khay để riêng, bảo ở bãi nhà người ta để đá ấy trong bóng, mưa xong chờ chứ không hong sát bếp. Chị chỉ kể cách dùng đang có, không nhận đã biết vì sao tất cả lớp lạnh phải làm vậy.
Vân hỏi vẫn có cần phủ mẫu thứ hai rồi đốt như dự định không. Nghiêu lắc, đổi câu hỏi: nếu không nung, một lớp bột đặt ngoài có giúp hay giữ thêm. Phần đó có thể thử thấp ở sân với đường trả rõ, mỗi lần biết mình đã thêm thứ gì, không cần mua cả một buổi lửa nữa để cố làm nghề gốm đúng trong đá. An gạch tiền đốt chưa dùng khỏi phần sẽ gọi, giữ công người giữ lửa đã làm thực.
Thợ rèn trả khay cùng số mảnh, phần đã rạn không nhét vào túi nguyên. Nghiêu nhận giá buổi thử theo khoản đã chọn, không gán hết cho nhà có vật liệu khác với lòng ông mong. An đem khay về, Vân đi sau hỏi có phải nghề cũ trở thành vô ích. Ông cười mệt, đáp nhờ biết lửa ông mới thấy mình đang định hỏi nó một việc không chắc làm được. Rồi ông nhờ cậu cầm một đầu vì bàn tay bắt đầu mỏi giữa lạnh, thôi cố giữ cho lời vừa nói nghe vững hơn.
Ngày sau, họ đặt mẫu chưa nung trên giá đã đối, hai hướng đều ghi. Nghiêu làm một lớp bột dẫn rất mỏng ở mặt ngoài của một miếng, dùng cùng lượng đã đong, phần không phủ giữ riêng. An ngắt đầu nhận sau lượt ngắn, Miên đọc đầu trả và người bên cạnh đọc thước thứ hai. Vệt mặt phủ lắng gần như họ muốn, nhưng chỉ đặt ở cạnh lớp dưới còn giữ lâu hơn bên không phủ trong lượt ấy.
An muốn hỏi có phải chất bột Nhạn đã gây thêm giữ. Miên chỉ nhãn: mẫu chỉ cho biết có khác sau cả việc phủ và làm ẩm, chưa tách được chất bột với lượng nước mới đem vào. Họ để cả hai về đủ, làm lượt tiếp với phần nước không bột trên một mảnh khác cùng nhóm. Nghiêu nhận giờ chờ ấy, không đứng gõ cho phần cuối ra nhanh như muốn một mẻ lò kịp thuyền đã tới.
Tới chiều họ có đủ thấy lớp kín ngoài không giúp đọc hết phần dưới, còn muốn kết một thành phần phải chờ thêm mẫu. Vân lấy dao chỉ trên hình, không rạch mặt đang giữ, đề nghị để một đoạn cạnh lộ cho dụng cụ và chỗ tháo riêng. Dậu hỏi lúc trả thanh cho nhà có phải chừa cả một cửa như vật thử không. An giải thích đồ treo nồi chưa nhận dòng ấy, không phải thay mọi vật trong nhà theo cách họ dùng trên tuyến đường.
Độ đem tới một kẹp gỗ người làm xe thường dùng giữ hai mặt tạm. Nghiêu thấy nó thô, tưởng phải có đồng mới giữ đúng, rồi thử tải nhẹ bằng tay khi mẫu không có lực. Mặt gỗ tì rộng hơn, không cấn vào cạnh lớp như cái kẹp kim loại nhỏ. Miên đánh phần đệm còn nén, họ chưa nhận dùng ngoài đường, nhưng có một cách giữ vật mà không cần biến nó thành tấm liền qua lửa.
Khi đặt hai chân kẹp thẳng trên mặt kê, đầu đá hơi vênh làm một góc không chạm. Nghiêu định siết xuống cho phẳng, Độ đưa sợi chỉ thường qua khe để ông nhìn chỗ trống. Siết sẽ bắt chính lớp đá đang muốn giữ phải chịu một độ cong khác. Họ thêm miếng tựa rời dưới phần chắc, đổi vị trí lực ép ra khỏi vết tách, giữ được góc lộ mà không làm tấm thẳng theo hình trên bàn.
Vân tô than ở mặt tì trước một lượt ép khô, tháo ra xem vùng đã chạm. Vệt đen chỉ nằm thành một cạnh, khác điều mắt nhìn từ trên tưởng đều. Cậu đổi đệm, thử lại, để than đủ chỉ chỗ tì chứ không bôi vào phần sẽ nhận lực. An trải vải gom những vụn đã rơi, giữ chúng khỏi dính sang mẫu nguyên. Một góc sửa xong không làm những mảnh rời dưới tay thành thứ họ chưa từng làm mất.
Dậu xin lấy lại một miếng đệm chưa dùng sau buổi, nó vừa chỗ kê sàng nhà. Độ đánh riêng, không lấy miếng đã nén lệch đem cho vì trông còn mới. Cả bộ thử vẫn được đếm theo phần đã dùng, phần trả và phần chuyển công khác, để chiều không ai phải mở ba thùng tìm một mảnh gỗ vốn đã có người nhận.
Lượt lắp đầu, kẹp che đúng chỗ lớp cần nhìn. Vân đổi góc, chốt rút lại nằm bên người đứng sát đường trả. Độ đặt chân mình vào vị trí thật trên hình nền, hỏi cậu sẽ lấy tay đi qua đâu khi chỗ dưới còn giữ. Cậu tháo chốt mẫu, chuyển cả giá ra ngoài, giữ phần tháo từ bên khô. An nhìn cậu mất một buổi cho điều ở bàn tưởng chỉ cần xoay, không giành làm cho nhanh dù mình nhận ra lỗi sớm hơn.
Cuối ngày, bộ giữ còn có hai chỗ chưa đạt. An ghi đúng phần ấy, khép lượt thử khi người đối đã hết ca. Nghiêu muốn tới xem thêm một chút không nối nguồn, hỏi đủ người có nhận ở lại không rồi mới làm. Chỉ Độ rảnh thêm khoảng ngắn, Miên cần nghỉ, họ chọn xem bằng mẫu gỗ không lực và để phần đọc tới hôm sau. Một lời muốn học của người lâu nghề cũng cần đi qua giờ người giữ thước.
Sáng ngày thứ ba của đợt này, Vân mang giá đã sửa tới, đọc bản trước khi An đặt chỉ. Cửa cạnh đủ lộ, đệm có dấu giới hạn nén, chốt tháo kéo ra phía người đứng chắc. Độ thử cùng một người khác thấp tay hơn, cả hai tới được mà không cúi mặt trên mẫu. Nghiêu giữ tờ của mình, không đọc kết quả An từ phía sau; Miên nhận phần mực cùng người giữ giờ, để lượt có cả những bàn tay khác người nghĩ ra nó.
Lượt thấp đi qua chậm, phần dưới trả sau như trước, không được lớp giữ mới chữa thành mau hơn. Điều khác là họ nhìn được đủ hai đầu và nhấc từng miếng sau khi về, không cần chạm vào chỗ kín để đoán. An không gọi đó là tấm đã hết lỗi. Nó là cách dùng được một giới hạn đã biết, trong tải thấp tại sân, còn đường đá mưa phải thử riêng với người dẫn và nền thật.
Họ tháo bộ bằng tay người mới vừa học. Một chốt cột dây ngắn làm người tháo phải đưa tay lại gần miệng sau khi kéo, Độ dừng, cả nhóm đổi độ dài và chỗ buộc rồi lặp phần khô. Vân giữ cái dây cũ cùng tờ sửa, không giấu nó vì mẫu sau đã đẹp hơn. Nghiêu kê thanh rạn bên cạnh miếng nguyên, ghi rõ thứ đã mất khi mình hỏi lửa sai, số ấy không quay lại dù cuối buổi có một cách khác làm được việc.
Chiều, họ trả mẫu còn lại cho Dậu tới đúng sân chị chọn, chưa đem bộ thử mắc vào nước nhà. Nghiêu cùng An kê lại giàn treo nồi theo dấu trước tháo, cho chủ nhà thử sức giữ thường rồi mới rời tay. Dậu kiểm mặt lên, nhận đủ phần đã hẹn, mẫu rạn giữ trong hộp thử đã được mua riêng. Chị đưa miếng phên lót khỏi chỗ nồi, để một vệt nắng mới tới, buổi khảo sát khép bằng căn nhà lại dùng được đồ của nó.
An ra bờ nhìn ngả mưa từ đống sa. Độ chỉ một đường chuyển vật tư có thể bắc máng rời qua khe ngoài, tránh khúc gùi nhiều người đang ngại. Máng không cần dựa vào hốc lạnh cho lực đẩy, chỉ dùng độ dốc và người giữ tải từng đoạn. Vân muốn giúp làm mẫu phần kê, Nghiêu còn ngày nhận ở đây, có thể đối vật trượt mà không nung đá. Miên xin đo nơi vật rơi và nước mưa ra trước khi vẽ đường thành món đã làm.
Họ hẹn buổi tới từ phần nhìn ấy, chưa cắm chân máng trên đất đậu Mùi hay nối miệng trả vào rãnh dùng nhà. Độ dẫn về chỗ nghỉ đã hỏi ở bãi, An cất chiếc que gõ không dùng trong buổi cuối vào hộp. Tấm đá rạn không cho thêm một phép mạnh nào, người thợ gốm cũng chưa biết hết vật liệu dưới chân núi. Nhưng ngày mai có thể bắt đầu bằng cách mang đồ qua một khe mà không phải dùng tới phần lực còn nằm lạnh dưới những lớp họ chưa mở nổi.
Chương 63: Máng trượt qua khe
Quyển IV — Con đường không có trạm