Chương 8: Chuông cho mọi ngả
Quyển I — Bảy ngả nước
Mùa mưa đến muộn hơn lời người bán áo tơi đoán, nhưng đến đủ mạnh để thử những đường chỉ mới. Suốt trận đầu, An ngồi trong nhà họp cùng người trực nước. Mỗi khi ngoài sân có tiếng động, anh vẫn quay đầu quá nhanh về phía tai không nghe rõ.
Chỗ sân bị cuốn đã được rào bằng tre. Mỗi lần giọt mưa gõ lên đoạn tre rỗng, An tưởng có ai gọi. Anh biết tiếng ấy đến từ ngoài sân, vẫn phải nhìn để yên lòng. Người trực định đứng lên đi xem hộ, anh giữ tay ở mép bàn, xin người ấy cứ tiếp tục ghi vạch bể. Một tiếng động anh chưa quen không thể khiến cả ca bỏ mắt khỏi giấy.
Vân chạy tin tới cửa, cờ buộc trên lưng áo tơi ướt sẫm. An nhắc cậu đứng phía sáng, nhìn miệng mới nghe đủ việc báo đèn ba đã đổi người. Cậu lùi sát đèn, vô tình che cả mặt giấy trên bàn. Người trực kéo giá lên, Miên dời ghế, ba người xoay một vòng nhỏ quanh nhau mới tìm được chỗ ai cũng thấy. Không ai làm việc nhanh như lúc tập giữa sân khô. Họ đánh thêm dấu để khi mưa sau tới không phải tìm chỗ từ đầu.
Du Miên không nhắc. Cô đẩy cây đèn về giữa bàn để anh thấy người nào đang báo hiệu.
Nước ở mương rửa lên rồi hạ. Bể ngoài đồng đầy đến vạch đã khắc. Bạch Đài báo một vết rạn nhỏ ở lớp chèn ngoài; họ chuyển bớt dòng, ghi lại, sửa vào sáng hôm sau. Không ai chờ trạm chủ nói mọi thứ đều ổn mới nhìn xuống chân mình.
An tới xem chỗ chèn sau khi có người nhận ca. Tay anh đã bớt rộp, nắm được cán nhưng không giữ lâu. Anh nhờ người thợ bên cạnh gõ lại hai lượt, vì lúc ngoài mái còn nước nhỏ anh không tách được tiếng đá. Người ấy gõ mạnh hơn. An lắc đầu, xin cùng lực như lần đầu, nếu đổi cả lực gõ thì hai lượt không đối được. Họ mất thêm một lát chờ gió tắt, rồi xác nhận chỉ lớp ngoài rời, không phải nền lại mở ngang.
Trận thứ hai, vạch bể giữ lâu hơn dự tính. Người trực Vườn Dâu không gọi An ngay, gửi hai dấu đo cách nhau một khắc. An cầm tờ giấy, muốn xách túi chạy đi. Miên hỏi họ đã yêu cầu giúp hay chỉ báo để biết. Anh đọc lại, thấy chữ chờ đối mức ở cuối. Họ trả lời bằng mức Hạ Ngạn, ngồi đợi lượt kế. Tới chiều Vườn Dâu báo đã mở nhánh trả và mức hạ. An ra bờ xem sau mưa, vẫn gặp chỗ bùn chưa nạo hết; việc chờ người trực xử lý không làm mất quyền kiểm lại.
Sau trận mưa thứ ba, họ lắp chuông mới.
Không phải chiếc chuông lớn An nhận sửa hôm đầu. Chiếc ấy được giữ ở nhà họp, bên dưới còn để lộ một đoạn rãnh làm dấu nhớ. Chuông mới nhỏ hơn, treo ở bảy chỗ có người giữ nút. Mỗi chiếc gắn thêm một cờ vải, để người không nghe rõ hoặc đứng xa vẫn nhận được tín hiệu.
Thợ mộc khoét giá để cờ không cuốn quanh dây chuông. Lần thử đầu trong sân rất đẹp, treo ra mương thì gió ép cờ vào cột. An đã chuẩn bị khoan thêm một lỗ, người trực ở đó lấy chiếc que chống từ dưới, chỉ cần đưa cờ ra xa nửa gang. Anh làm theo, đổi giá bằng một mảnh gỗ thừa thay vì đúc lại đồng. Vân ghi vào mép mẫu rằng thử phải có gió và phải đứng cả phía sau.
Một bác ở xa chỉ nhìn rõ màu khi trời sáng; chiều muộn cả xanh lẫn đỏ thành tối. Miên đề nghị đổi cả cách treo: cờ dừng nằm ngang, cờ đủ đường trả nâng cao. Bác thử kéo, bị dây mắc ngón vì nút nhỏ. An gỡ ra làm nút lớn, dùng đủ bàn tay nắm được. Chiếc chuông nhỏ ở bàn chưa hề ngân mà đã làm mọi người đổi ba thứ. Anh không còn lấy âm tròn làm dấu duy nhất của món đồ sửa xong.
An làm phần đồng. Mối nối chính do anh và một người học việc cùng kiểm tra. Những lúc âm chồng lên nhau, anh đặt tay lên mặt bàn gỗ, nhờ người kia gõ lại. Ban đầu anh ghét phải hỏi. Sau đó anh ghét việc mình có thể bỏ sót một vết nứt hơn.
Vân nhận phần giữ mẫu trước, chưa được tự nối vào đường đang mang lực. Cậu làm một quai chuông lệch, giấu dưới những chiếc đã đạt để lát sửa. An lật thấy, cầm lên định hỏi vì sao. Cậu vội xin làm lại. Anh đặt chiếc lệch cạnh chiếc đúng, nhờ cậu thử xem dây kéo cờ có cọ đồng không. Nó cọ, giữ một tiếng khô ngắn mà An không nghe ra ngay giữa tiếng đục gỗ. Vân nghe được, dừng tay báo. An trao lại cả hai mẫu, bảo ghi chính tiếng ấy chứ đừng chỉ ghi quai xấu.
Buổi tối, cậu hỏi có thể tới học thường xuyên không, nhà đã đồng ý đổi buổi chợ cho cậu. An yêu cầu cậu nói lại giờ tới, không giả vờ đã nghe hết lời ở phía trái. Cậu chuyển ghế, báo rõ chỉ học được ba buổi một tuần. An đồng ý ba buổi, không đòi một người có nhà cửa phải theo anh từ sáng tới khuya mới gọi là học nghề.
Đứa học việc hỏi bao giờ được học định tuyến. An chỉ bảy lá cờ.
— Lúc em biết đợi người khác báo đã.
Nó nhăn mặt. An nhận ra nét mặt mình hồi còn nghĩ người giữ trạm chỉ cần đứng cao là nhìn đủ.
Vân kéo thử cờ cao, đợi người ngoài sân giơ tay đáp mới thả dây. Lần này cậu không nhăn mặt nữa. An nhận ra câu trả lời của mình dễ nói hơn để người khác được chờ thật. Anh dời túi dụng cụ khỏi đầu bàn, cho cậu đủ chỗ tự tháo quai lệch. Khi cậu hỏi có đúng chiều không, anh chỉ mẫu đã đánh dấu, đợi cậu đối trước rồi mới đáp. Một quai được sửa chậm, nhưng người sửa biết vì sao nó phải quay như thế.
Đá Bạc gửi tới một giỏ mận nhỏ. Phần lớn còn chua. Ông lão bảo để ăn thử, không phải lễ cảm tạ, và đòi An trả chiếc gàu đã mượn từ hôm đào kho. An tưởng mình trả rồi; Du Miên chỉ nó đang đựng dụng cụ dưới bàn.
— Gàu vẫn có ích — anh chống chế.
— Ở Đá Bạc cũng có việc cho nó.
Anh đổ dụng cụ ra, rửa sạch, tự mang gàu về.
Ông lão không đứng chờ ngoài cửa để nhận lời cảm ơn. Ông đang tỉa cành chết, nhờ An giữ gàu dưới gốc hứng cành vụn. Có cây đã ra chồi mới, có cây gõ vào còn rỗng. An cầm mảnh đồng theo thói quen, rồi cất lại vì gốc rễ không cần thứ ấy lúc này. Anh giữ gàu tới khi đầy, mang cành ra chỗ đốt bỏ do người làm vườn chọn.
Miên đi cùng, hỏi những cây ấy có cần đánh dấu lên bản đo không. Ông bảo đánh riêng cây đã chết với cây chưa chắc, đừng gộp hết vào một màu. Cô làm hai dấu. An nhớ lời mình đêm đầu rằng có thể trả được nước ngay, thấy cái gàu rỗng sau khi đổ cành nặng hơn lúc mang tới. Ông lão lấy gàu, bảo để mai còn tưới gốc. Anh trao trả hẳn, không tìm một việc có ích khác để giữ nó lại.
Trên đường trở lại Hạ Ngạn, anh gặp Cố Kính đang cùng hai người tháo một tấm dẫn hỏng. Ông không còn áo trạm chủ. Vết chai mới ở vai làm ông đổi bên khi khuân đồng.
Họ chào nhau. Không có cuộc hòa giải khiến mọi chuyện cũ biến mất. Cố Kính hỏi nên thay cả tấm hay vá mép. An bảo cần đo nhánh trả trước, rồi ngồi xuống giúp một tay cho đến khi người giữ sổ tới.
Cố Kính lấy que đo từ người đang phụ, chờ cô chỉ chỗ cắm. Ông quen đặt sâu hơn, kết quả đầu sẫm quá. Người phụ nhắc đây là tầng đất nông, không phải bể trạm. Ông rút lên đúng vạch rồi đo lại. An ngồi bên tấm dẫn, nghe được một âm nhưng không biết từ mối cũ hay miệng mới. Anh xin người phụ gõ từng chỗ, đối với giấy. Không người nào ở đó đủ sức tự xác nhận cả ba phần. Tới khi người giữ sổ đến, tấm dẫn vẫn chưa tháo, nhưng họ biết nó cần vá mép và chừa đường trả nào.
Chiều ấy, nhà họp mở lớp đọc mạch đầu tiên. Bà Từ mang theo kim chỉ. Du Miên trải giấy, gồm cả những bản đo sai cô giữ lại. An đặt một cái bát cao, một cái thấp và một chiếc chậu ở giữa bàn.
Người tới học đủ tuổi, đủ nghề. Một chị bán đậu hỏi học để biết nước trong vườn mình có bị chuyển đi không thì mất bao lâu. An bảo phần ấy có thể bắt đầu ngay chiều nay. Phần biết hết thung lũng thì anh vẫn đang học.
Bà Từ lấy sợi chỉ nối hai cái bát. Một đứa trẻ ngồi cạnh đòi làm đường thứ hai. Bà đưa nó đầu chỉ còn trống, chờ nó tìm chỗ đặt.
Nó nối thẳng sang bát thấp, nước làm ướt tay. Người ngồi sau định đưa giúp vào chậu, bà Từ nhắc cứ để nó nhìn xem chỗ nào đang đầy. Đứa trẻ nhìn bát rồi nhìn chậu trống, đổi đầu chỉ, làm đổ một ít lên bàn. Chị bán đậu lấy khăn của mình lau, hỏi có phải vườn cũng cần chỗ giữ thừa như cái chậu. Miên đưa tờ giấy trắng, nhờ chị vẽ bờ vườn trước, chưa cần biết ký hiệu.
An tới xem nét vẽ, nhận ra chị chừa lối nước ngầm dưới hàng đậu khác đường mương ngoài mặt. Anh không biết lối ấy, hỏi thấy khi nào. Chị bảo chỉ khi đào cọc sau mưa. Anh đánh một dấu hỏi bên cạnh, hẹn tới xem trước khi gọi nó là mạch. Vân ngồi cuối bàn chép cách đánh dấu hỏi, để nguyên khoảng chưa biết. Buổi học không kết bằng một bản đồ đủ hết; nó có thêm một nơi phải đi và một người sẽ dẫn đường.
Chị bán đậu hỏi những dấu trong giấy đọc thế nào nếu không nhớ hết chữ. Miên lấy hai viên đá, đặt lên một đầu và một cuối đường vẽ, dùng chính hai chữ đầu vào và đường trả đã nói quanh bàn. Chị chỉ đúng viên cuối khi được hỏi chỗ nào phải có người nhận trước. Người ngồi cạnh muốn nhắc đáp án, An giơ tay xin đợi. Chị tự chuyển viên đá sai từ lần sau, rồi đẩy tờ vẽ cho ông già làm vườn thử.
An nghe được từng tiếng riêng khi mọi người thay lượt. Lúc cả bàn cùng cười, các tiếng lại dồn làm anh mất một câu. Anh xin nhắc lại, người làm vườn quay mặt và nói chậm hơn. Không ai ngừng buổi học để khen anh chịu khó. Miên chỉ kéo đèn sang giữa cho họ thấy nhau, tiếp tục hỏi bát nào đang đầy. An đặt tay lên mặt gỗ nhận một nhịp rung, rồi nhấc ra vì người bên kia cũng cần chỗ kê tay. Chiếc bàn nhỏ có đủ khoảng cho một cách đọc mới, khi người tới trước chịu nhích sang bên.
Cuối buổi, chuông phía Đá Bạc ngân một tiếng. An quay tai phải về phía cửa. Cờ xanh bên mương cũng được kéo lên: bể đã đủ, xin trả dòng sang Vườn Dâu.
Anh không đứng dậy chạy ra như trước. Người trực hôm ấy đã có mặt, đang nhìn người bên kia mương. Hai lá cờ chuyển động nối nhau trên khoảng đồng mới ướt.
An thu kim vào hộp, nhấc chiếc chuông cũ lên khỏi bàn. Đồng vẫn còn dấu mối vá đầu tiên của anh. Anh gõ nhẹ một cái. Âm không tròn như trước, nhưng người ngồi bên kia bàn đã nghe thấy, ngẩng đầu và đáp lại.
Chương 9: Người trực đầu tháng
Quyển I — Bảy ngả nước