Chương 29: Cửa lò mở muộn
Quyển II — Dưới đồng muối
Mưa nhỏ giữ đất hong thêm hai ngày. Mỗi sáng An ra hiên thấy tấm vải phủ vẫn tối màu, lại cất que nối vào túi. Nghiêu đã chuẩn bị mẻ này từ sau lần mẫu nứt, chừa một phần đất cho đoạn dẫn thử, phần lớn làm bù kiện chìm. Trên giá có đủ hình cho cả hai việc, trong lò chỉ đủ chỗ nếu xếp đúng khoảng. Đẩy thêm một vòng vào khe có thể làm tất cả nguội lệch, ông không nhận đánh đổi hàng của người khác để giữ ngày trên bản của An.
Thoa lấy mấy vòng thử xuống một giá riêng khi nhận thấy một chân chưa khô bằng mặt. Vân giơ hai tay đỡ, hỏi có thể xoay chân lên trên cho nhanh không. Chị chỉ một đường bụng sẽ võng nếu đất mềm chịu sức ấy. Cậu kê thêm một miếng gỗ theo mặt cong, để khí đi được quanh chân mà vật không đổi dạng. An ngồi giũa đồng bên cạnh, nhìn đoạn người học vừa làm được mà mình chưa từng nghĩ phải hỏi trước khi vẽ một cái vòng.
Ở bể lắng, Thực vét xong phần đã nhận sau mấy ca chia. Nghiêu thanh toán hết công ấy, không bịa thêm bùn để giữ người bằng một khoản không còn việc. Mẹ Thực vẫn nhận lượt giữ mốc riêng; phần vụ bán trước chưa được giải hết. An đem con số còn thiếu vào bản vật liệu, tính cùng phí mua nước của những nhà quanh giếng. Họ bớt một đoạn thử lớn, giữ tiền cho ca quan sát đủ kỳ thay vì đợi sau khi đã lắp mới tìm người làm không công.
Ngày hong cuối, gió nổi đủ làm góc vải bay khỏi móc. An cùng Vân dời từng giá vào khoảng kín gió, phải đi vòng vì mấy xe chở củi mới tới. Anh không nghe tiếng xe sau lưng, nhận bàn tay Thoa chạm lên cánh tay rồi mới dừng. Khi xe đã qua, chị kéo đường phấn trên nền rộng thêm một gang. An xin để một lối xe luôn trống tới lúc dọn lò xong; mang cả giá gốm mới vào đó sẽ làm mọi người phải nhớ tránh từng người suốt đêm.
Nghiêu châm lò sau lượt gió mạnh, muộn hơn giờ dự tính một buổi. An nhận ca chuyển củi cùng người lò, mỗi bó đặt xuống tại vạch, không đưa qua tay người đang mở cửa lửa. Miên tới ghi ngày đổi trên bản thử, hỏi ông hẹn khách bù ra sao. Ông đã gửi người báo chậm vì hong, mang theo một vòng còn ẩm để khách thấy nếu muốn xem. Phần trả chậm còn đó, được cộng bằng số ngày thật, chẳng có ai xoay tờ lịch cho lò khỏi thiệt.
An ngủ lượt đầu, tới ca mình thì bát cơm bên đèn đã nguội. Vân đứng dưới chân lò nhìn bảng lửa, không phải người quyết thêm củi. Cậu nhận chuyển lời giữa hai phía vì tiếng cháy che mất tiếng gọi. An đặt mình ở đầu nhìn thấy tay người giữ cửa, để khi chuyển lời có thể nhận bằng mắt. Một lần ánh lửa rọi làm bàn tay ấy chỉ còn bóng đen; anh giơ tay xin lặp, không tự bù chữ đã nghe thiếu vào khoảng đầu mình cho là hợp.
Hai lượt ngày đêm trôi qua theo các ca giữ lửa và nghỉ, rồi lò mới hạ. Đến gần sáng cuối lượt chờ, một bên xuống chậm hơn. Nghiêu giữ cửa thêm, dù ngoài sân người nhận hàng đã đặt xe sớm. Họ đi từ bến xa, muốn lấy ngay khi đồ hết đỏ bằng mắt. Ông đưa que thử đặt cùng mẻ ra nhìn dấu, xin họ đợi phần trong. An đứng sau, biết sự chờ ấy có giá công xe và có thể tới lượt lò trả. Ông vẫn chưa tháo chốt.
Vân gục đầu một lần trên bàn, chiếc bút lăn xuống nền. An gọi cậu thay ca, cậu bảo mình chưa đủ giờ đã nhận. Anh chỉ dòng công có cả lúc nghỉ, nhờ cậu chép lại giờ bắt đầu để người thay khỏi tưởng cậu còn giữ phía sau. Vân đứng lên chậm, đem bát cho người bếp trước khi về nằm. Một khoảng trống trên bảng được người khác đặt tên vào, lò tiếp tục mà không cần cậu cố mở mắt cho đủ vẻ chăm nghề.
Mặt trời lên, Nghiêu mở một khe nhỏ, rọi nhìn mảnh nằm sát miệng rồi đóng lại. Ông mời An chạm cán mẫu ngoài, không chạm gốm. Nhiệt còn truyền qua gỗ tới lòng tay dù màu đã trắng. An nhớ vết nứt mình tự làm, nhận giữ xe hàng ngoài sân thêm lượt, mang ghế cho người đợi. Anh nghe họ phàn nàn, có người nói đến ngày quay thuyền. Anh chuyển nguyên lời vào, không bảo khách phải biết nghề thì mới hiểu.
Cửa lò chỉ mở rộng khi người giữ mẫu trong nhận đúng dấu. Những vòng đầu ra chậm qua tay hai người, được đặt trên nền kê đã khô. Thoa đọc dấu từng chiếc cho Vân vừa trở lại ghi. Kiện bù có một vòng mép thô bị giữ lại, thay bằng chiếc khác cùng việc; người nhận được nhìn ngay chỗ ấy.
Đồ thử của An ra cuối, một đoạn dài trắng nhẵn tới mức anh vừa cầm đã muốn đặt thẳng lên bản đất để xem nó vừa đường nào.
Họ chờ đủ lượt nhả rồi mới đưa đoạn thử lên bệ. Nghiêu đặt nó cùng hai đoạn ngắn, cả ba có giấy riêng từ lúc hong. An lắp đầu vào bằng đồng, đầu trả giữ mở về bể thử đã vét. Miên đặt giấy ở cả trước lẫn sau đoạn dẫn, còn thước gốm chỉ dùng so nhịp trả ở mức thấp. Họ đo nền sau lò vừa tắt, chờ nền ấy ổn lại mới bắt đầu; sức lò còn trong đất không được nhập vào lời khoe một đoạn mới dẫn giỏi.
Mức thấp đi qua. Ánh xanh chạy gần như đều trên đoạn dài, âm nhả chậm hơn đồng nhưng trong dải họ đã thấy ở gốm sạch. An dịch một vạch ở đầu vào theo lượt đã nhận trước. Miên đọc dấu cuối giảm, Nghiêu nhìn mặt dưới. Lực tới đầu kia ít hơn điều bề ngoài đang sáng khiến người đứng xem tưởng. Một phần còn giữ trong thành. Anh hạ về vạch thấp, đợi tắt, chưa coi phần thiếu là thứ có thể bù bằng cách cho vào thêm.
Sau hai lượt, Miên cho phép tăng tới mức dự tính để giữ một giếng. An mở tới dấu ấy, ánh chạy đẹp hơn, rồi tiếng gốm trở nên phẳng, như tiếng gõ lên một cái bụng đang bị giữ.
Anh giơ tay dừng cùng lúc Nghiêu thấy giọt nước đọng ở một vệt rất mảnh. Đầu vào hạ, đầu trả còn mở. Thoa đứng tại bể xác nhận phần nhận chưa đầy; không ai cần đập vỡ đoạn dẫn để nhả cho nhanh.
Vết rạn nằm dưới bụng, chưa tách thành hai nửa. Lượt sáng đẹp đã khiến An nghĩ tới sức chịu cao hơn của lớp thành dày, nhưng chỗ cong ôm lực lại nhả không cùng nhịp hai đầu. Nghiêu đặt nó lên gối mềm, chấm than quanh rạn để giữ đúng lúc mới thấy. An nghe ông bảo phần này không đem vá rồi dùng dưới bờ. Anh cầm bút, ghi loại khỏi công trình dù trong mắt vẫn còn cả đoạn đường vừa tưởng mình đã có.
Hai đoạn ngắn được thử riêng với cùng mức thấp. Chúng nhả dễ hơn, chịu tới vạch dùng hạn chế đã đặt, chưa đủ thay một đoạn lớn bằng một đoạn nhỏ. An xếp chúng song song trên bàn, muốn ba nhánh chia dòng cho bớt ép từng thành. Miên yêu cầu tính cả sức bể nhận và phần đất giữa các nhánh. Cộng sức của ba miếng gốm không làm đường trả có thêm chỗ. Anh kéo bản về, vẽ một mức tổng thấp hơn phần mình vừa mong, rồi mới chia nó thành các nhánh nhỏ.
Những chỗ nối khiến bản vẽ xấu đi ngay. Đoạn liền chỉ có hai đầu, đường mới có nhiều khớp phải đặt nơi người tới được bằng chân, cần sân kê và lối mang mảnh hỏng ra. An dời một khớp khỏi mép bồn vì chưa biết nền dưới giữ gì, lại vướng lối gánh muối. Thực tới sau ca, nhìn tờ vẽ rồi dẫn anh ra sân thử bằng gậy dài bằng đòn gánh. An đóng cọc theo chỗ định đặt khớp; anh ấy đi qua, đầu gánh chạm ngay cọc thứ hai.
Họ chuyển khớp về sát bờ chắc, chừa khoảng cho cả người gánh đang tránh nhau. Đường thêm dài và mất một góc đẹp. Vân mang hai đoạn ngắn tới thử tháo khỏi giá: một khớp rời được khi hạ đầu vào, khớp còn lại kéo cả sợi trả lên theo. An sửa chân giữ riêng từng đường, cho cậu làm lại bằng tay ướt. Thoa nhận lần tới phải thử sau khi bùn đóng, bởi nút mở trên sân không tự mở được ngoài bãi.
An đặt một đoạn vào vòng cọc, nhờ bác Kha đứng chỗ dự tính giữ nút. Từ đó bác thấy tay Vân, lại bị lưng người khuân che mất thẻ đầu trả. Bác gọi dừng ngay giữa lượt chỉ dùng dây thường. An đã định treo thẻ cao hơn, Thoa cho rằng người tháo không thể nhìn cao mãi khi hai tay ôm gốm thấp. Họ đổi người báo sang mép đối, giữ một lối không ai khuân qua. Bác Kha thử nói hai lần, tới lần có tiếng búa ngoài kho An không nghe được câu cuối. Một mảnh vải vuông được buộc lên que theo dấu đã nhận; anh thấy nó từ chỗ giữ đầu vào và trả lời bằng tay.
Đến lúc bê đoạn ra, Vân mới nhận ra hai tay đủ ôm nhưng không còn tay mở cửa giá. Cậu đặt lại, xin người thứ hai giữ chốt, đợi mặt gốm ổn mới bước. Nghiêu ngồi bên vạch thêm một vị trí người phụ vào bản công. Thay một đoạn cần ít đào hơn, vẫn cần đủ bàn tay. An thử tự mình làm từ đầu, tới chính chỗ ấy cũng phải dừng và gọi Thoa. Cô nhận ở phía anh nhìn được, mở cửa rồi đi cùng tới nền kê. Cả đoạn còn nguyên khi đặt xuống, không để lại một người đứng chống gốm bằng đầu gối.
Nghiêu cầm đoạn dài hỏng, hỏi An muốn giữ gì trên bàn cho người tới góp tiền xem. Anh chọn bày cả nó lẫn các đoạn ngắn đạt thấp, ghi mức vừa đủ làm việc hẹp. Giá mới có thêm khớp và công chăm; đổi lại, một mảnh lỗi được tháo ngay tại lối giữ, không phải đào lại cả đường. Những nhà muốn mua nước thay sửa vẫn có quyền giữ lựa chọn ấy. Giếng thứ hai, thứ ba chưa có lời hẹn ngày ngọt trên bản của họ.
Miên đặt phép thử hôm ấy cạnh các tờ giữ mốc của mẹ Thực. Dòng ở bãi còn đảo trước mặt lạch một quãng, khác nhau giữa các kỳ. Cô chưa cho đem mấy đoạn đạt ra lắp, cần cọc ở đúng bờ và người ghi đủ lượt trước. An muốn đi ngay sáng mai, bác Kha bảo sáng mai có người cắt lau ở phía bồn, nhờ họ chỉ cây nằm tại nước cũ. Anh nhận đi cùng, mang theo đồ nhỏ chứ chưa thuê xe chở gốm.
Tối, xe hàng bù rời sân. Thoa trao đủ tờ nhận, phần hụt tiền chậm được ghi riêng vào khoản lò còn phải gánh. Nghiêu đứng nhìn xe tới lúc khuất, rồi mới vào ăn. An để dành ông phần cá chưa có ai động, đưa bản dùng đoạn ngắn tới sau khi ông đặt bát xuống. Ông bảo mai bàn, tay đã mỏi quá để còn nhìn thấy một góc lắp sai. Anh cuộn bản lại, ngồi ăn nốt cùng mọi người.
Qua cửa mở, những đoạn gốm đã nguội xếp ngắn dưới mái, mỗi đoạn chỉ dài vừa hai tay ôm. An lấy tấm vải che bụi, chừa thẻ bên ngoài cho ai tới cũng đọc được. Bản đường mới chưa rời bàn, nhưng khi cần dừng họ đã có thể chỉ đúng mảnh sẽ tháo và chỗ người đứng. Anh đưa tay dập đèn cuối sân, quay lại thấy Vân đã ngủ, ngón tay còn lằn than từ dấu loại trên vòng hỏng.
Chương 30: Lằn nước trên cọc
Quyển II — Dưới đồng muối