Chương 72: Đường qua đèo mở chậm
Quyển IV — Con đường không có trạm
Ba tuần sau buổi đổi bảng công, xe hàng đầu tiên của ngày lên dốc khi An còn đang ăn sáng. Anh không đứng dậy ngay. Qua cửa thấy cờ đầu nhận giữ thấp, người chèn đã tới trước xe, Độ đang đi đối vành bánh và vị trí các kiện với tờ xe đã thử. Miên đặt nửa củ nóng xuống bát anh, hỏi có ra xem sau khi ăn không. An gật, nhìn khói mỏng tan ở miệng bát, để ca trên dốc có được một khoảng bắt đầu mà không cần anh xuất hiện.
Họ đã ở lại qua các buổi mở theo lịch, cả một ngày không có khách nhưng ca giữ vẫn nhận công. Mưa ngắn làm ngừng một buổi, mẫu khay phải giữ lại thêm hôm sau mới đủ hai đọc. Một chiếc xe khác tới quá nặng chọn dỡ tại kho dưới, gửi nửa hàng đường vòng. Những dòng chưa qua không bị xóa khỏi bản khi người ta hỏi thành tích của đường mới. An mang số thật ra bàn Phùng, phần đã trả cho chủ dây sau khi ông ấy về cũng được khép bằng đúng người nhận.
Sáu bao sa ở kho không biến mất hết nhờ bãi vận hành. Một phần nhỏ đã được lấy dùng trong phép đối có tên, phần sàng theo cỡ bán cho người nhận đúng điều kiện sau khi họ thử riêng, phần còn chờ nằm trong ngăn đã trả chỗ. Phùng mời An nhìn một tờ khách muốn ghi dùng mọi mặt dẫn. Anh gạch đúng phạm vi ấy, giữ chỗ bán hàng vẫn có thể nhận. Ông càu nhàu, nhưng mang bản tới cho khách xem chứ không dùng nét ký dưới tờ khác ghép thành giấy mới.
Ở bãi, Mùi đem hạt đậu của lứa sau ra xem cùng Dậu. Chưa tới lúc gieo lại dải cho thuê, bà chỉ đối phần đất nén quanh chân kê và giữ lịch cuối mùa. Dậu nhận công theo dõi mốc nước, không thành người bảo đảm đất sẽ hồi tốt bằng đất bên cạnh. An giao phần tiền đã dành cho đợt kiểm và sửa sau mùa cho hai người giữ theo việc đã nhận, có tờ gửi về nếu đất khác. Tiền một mùa nghỉ bà đã nhận không bị lấy lại vì lượng hàng ít hơn dự tính.
Độ gọi An lên tới đầu xe thứ hai. Một góc chèn mòn hơn dấu đã nhận, anh đã cho thay trước khi mở lực, không đợi vật gãy để có bằng chứng. An xin giữ miếng cũ làm mẫu về lớp, trả đúng giá phần còn dùng làm gì được; Độ chọn giữ một nửa tại đây cho ca sau. Họ cưa khi xe đã ở chỗ nghỉ không nhận lực, đánh dấu hai mảnh, mỗi nơi có một mặt mòn thật chứ không có một người giữ độc quyền vật để chứng lời mình.
Đầu chiều có người mang một tập đặt hàng từ dưới bến, hỏi đường đã mở thì bao giờ mỏ trở lại. Sồi đang trả đồ chống mượn nghe thấy, đặt hai thanh xuống trước khi trả lời. An để ông nói những đoạn đã thấy và phần sâu không ai vào từ nhiều năm. Mốc ở nhánh ngang giúp quyết lượng đường bên ngoài, không là một lượt xem hết mái, khí, nước và lối ra trong mỏ. Người khách lật tìm dấu mở, không thấy, quay sang Phùng như thể người có kho hẳn giữ một tờ khác.
Phùng đem đúng tờ vận hành ra: hai buổi hàng trong tuần, lượng theo xe đã đối, phần gùi riêng, mưa vượt dải thì nghỉ, người bộ có lối đã kiểm. Tờ ấy không có đơn lấy sa sâu. Ông đã mua những bao gom mặt từ các nhà, nguồn nào chưa đủ còn giữ, không thể đem một bãi lắng nhỏ đứng thay quyền mở mỏ. Khách nói nếu chỉ vậy, chuyến lên hôm nay phí nửa ngày. An nhận phần bản báo dưới bến của tổ viết chưa rõ hai chữ đường hàng, xin gửi sửa cùng chuyến người khách xuống, không xin ông giữ im để buổi chia tay dễ chịu.
Sồi dẫn họ tới cửa ngoài, ở đó thanh gỗ liên lạc rời đã tháo khỏi phần không còn cần dùng. Cửa nhánh sâu giữ nguyên giới hạn, đường giếng ngoài không bị rào theo. Vân kiểm đủ các thanh mượn, có hai đoạn mới do tổ làm giao lại cho người giữ với cách thử và giá trị; phần chưa nhận dùng được đem về kho, không để người sau thấy một bộ gõ rồi tưởng có người đang chờ đáp ở trong. An thử gọi một lượt ngoài, im lặng tới đúng chỗ tín hiệu đã bị tháo, để người nhận biết cái thiếu nhìn như thế nào.
Dậu đem tờ báo nguồn gửi các nơi đã nhận cảnh báo trước. Bản của An có những túi đã đối được và những tên vẫn chưa về đủ, không đóng dấu yên cho cả Hạ, Cồn hay Cửa Lau từ trên núi. Nghiêu đã báo mẻ mới cần giữ bột phủ riêng, không dùng kết quả bãi để xóa lần kết muối trên mối nối cũ. Miên đối từng phong bì, tách bản gửi người giữ việc hiện tại khỏi thư hỏi mẫu, để tin khẩn không nằm dưới câu chuyện chuyến đường và một lời nhờ thăm người quen.
Khi khách đi, An cùng Sồi cất thanh cuối. Ông hỏi tai anh có khi nào rõ lại vào ngày núi yên không. An lắc đầu, đưa mặt phải về phía ông để nghe nốt. Sồi không bảo anh cố thêm một phép, chỉ chỉ chỗ đinh vướng áo trên hòm, hai người sửa nó trước khi đóng. Một khiếm khuyết ở tai vẫn đi cùng anh xuống núi; những thanh gỗ đã giúp người khác có đường báo tin, không trả cho anh thứ đã mất ở Bạch Đài.
Ngày cuối ở bãi, Độ giữ một lượt phải dừng khi mốc dưới chậm hơn dải thường. An đứng cạnh Phùng, nhận ra cơn muốn hỏi có cần mình vào không vẫn tới rất nhanh. Miên đặt cuốn đo vào tay anh, chỉ phần dành ghi của người quan sát. Họ nhìn ca hạ nhận, giữ trả, tìm thấy một lớp ẩm chưa tới giờ thay nhưng đã nặng. Độ gọi người đã nhận việc lấy lên từng phần, trả mẫu về đối, bỏ đơn cuối buổi vì không đủ giờ. Không ai đợi một câu An cho phép trước khi làm điều đã được tập.
Người khách mất đơn cuối muốn lấy tiền công chờ, Phùng đối điều đã nhận và trả phần thuộc mình. Độ nói ngay hôm sau không có ca đủ người, không mở bù riêng sau khi tổ đi. An nghe, muốn góp rằng anh có thể lùi thêm một ngày, rồi nhớ người giữ mốc đã xin nghỉ lo cha. Anh cất câu ấy, chỉ hỏi có cần gửi bản tình trạng theo chuyến về không. Độ đưa bản đã ký ở bàn mình; tổ mang tin giúp, không mang trách nhiệm điều khiển ca trở lại trong túi.
Tú tới nhận phần cuối của hai buổi hong, đưa một túi áo vá cho Độ mang về. Họ đang cần mua dây mới, chị hỏi phần nào tính vào việc nhà, phần nào mua cho ca bãi. An ngồi buộc hòm, nghe câu hỏi không còn phải chờ mình đặt ra mới xuất hiện. Mẹ Dậu đã nhận đủ buổi sửa phên, vẫn không nhận lịch cả mùa vì có khách khác. Chỗ thay người ấy được Độ đưa vào giá trước khi bán, không để đời riêng của bà thành một vật tư luôn có trong kho.
Vân xin dành buổi chiều tới nhà Mùi hỏi về cách chừa hạt. Cậu mang hai miếng kê định đổi cho bà, An nhắc hỏi rõ đó là bán, mượn hay cho trước khi đem xuống. Cậu cười, bảo chỉ mang để bà xem có cần, không dùng đồ gốm đổi một lời khen về bãi. Khi trở lại cậu kể bà chọn không lấy vì đầu luống vẫn dùng gỗ dễ thay, thế là hai miếng về đúng hòm. Có những món nghề của cậu làm được mà người khác không cần nhận, chuyện ấy không khiến buổi nói chuyện thất bại.
Tối, ba người kiểm đồ đường về. Tiền trả lò của An vẫn ở túi đã giữ từ các chuyến trước, chưa thành hết nợ; vật hỏng trên núi có khoản riêng. Miên có số buổi nghỉ và phần việc nàng chưa nhận, không ghép vào lịch An sắp nói với người ở Hạ. Vân kiểm mẫu theo nguồn, giữ gói chưa đủ nhãn ngoài hòm dùng ngay. Họ không mang nước nặng về bằng tên mẫu nhỏ; phần nước cần xem tiếp đã có người giữ, giờ và cách mở tại núi.
Phùng mang khoản công cuối tới đối trước khi buộc hòm. Phần máng đã tháo không được viết trở lại thành thiết kế hoàn thành; tiền này là những buổi thử, dựng bãi và bàn giao đã nhận theo dải mới. An trừ các khoản bổ sung có chứng trước, nhận số còn lại đủ tiền đường nhưng ít hơn nét ước lúc lên. Vân đối riêng phần mình đã lĩnh, Miên lấy đúng phần giờ của nàng, không nhập hết để An nhìn một túi có vẻ nhiều. Họ đếm xong dưới đèn rồi cùng cất bản, để một đồng gửi về lò không phải được làm ra bằng cách bỏ quên tiền người đang hong chiếc áo khô cho chuyến xuống.
Sáng đi, An tới nhà Độ trả tấm vải khô mượn, đã giặt riêng phần bẩn và hỏi đúng người nhận. Tú gấp nó lên ngăn, không nhận thêm một lời hứa lúc nào anh cũng về giải cứu bãi. Chị chỉ bảo khi thư tới hãy đọc cả câu hỏi sau tiền hàng; nhiều lần người dưới bến chỉ đáp phần mua bán. Độ đưa một miếng chèn mẫu gói kín, nửa còn lại ở tay anh. Bên cửa đứa con trai hỏi bao giờ đường đủ xe to, anh đáp hôm nào có đủ phép thử khác, chứ hôm nay thì không.
Hai ngày bộ xuống Trung Nha có người dẫn theo chặng đã thuê. Sương mỏng còn ở góc dốc, họ đi chậm trên đoạn bậc ẩm; không vì đã xong việc mà dồn đường cuối. Đêm đầu An ngủ sớm, tỉnh nghe một bên mái nhỏ nước, một bên chỉ là khoảng lặng quen. Miên không lay anh dậy để xem bản gửi, tự cất phần giấy còn khô và để tới sáng hỏi chỗ cần đối. Vân ngồi ngoài sáng ghi lại cách đóng nhãn, buổi làm có giờ hết, rồi cũng gấp cuốn đi ngủ.
Tới bến, họ phải đợi chuyến đổi thuyền, lấy phòng đủ ba chỗ theo phần tiền đã giữ. Có người nhận ra thẻ tổ, hỏi có đúng đường Đá Nhạn đã thông cả không. An mở bản dành đem xuống, chỉ phần ngắn có thể chuyển hàng và phần dừng. Người ấy có kiện lớn, xem giá rồi chọn một bến khác. Anh giúp kê nó khỏi lối chờ, không giữ khách bằng câu lên tới đó Độ sẽ thu xếp thêm. Đường bây giờ chỉ rộng bằng điều những người ở lại có thể làm trong ngày họ nhận việc.
Chiều ở bến, lá thư từ Hạ được đưa qua người quen giữ quầy. An nhận theo tên, kiểm dấu rồi mới mở. Người giữ giếng báo đầu mùa khô ít nước hơn các năm họ đang đối, vài hộ tới hỏi lời hẹn xưa còn giữ được tới đâu. Có người coi cảnh báo vật liệu đồng nghĩa tổ đã biết cả hạn sẽ tới; hai chuyện bị buộc chung khi tin đi qua nhiều miệng. Anh đọc lại phần ngày giờ, đưa Miên xem, chưa viết một lời đảm bảo trước khi đặt chân về đất.
Vân mua một đoạn dây buộc hòm, chọn sợi vừa tay thay vì sợi đẹp nhất rồi xin người bán chỉ cách cất khi ẩm. An ngồi ngoài cửa quán nhìn con thuyền đang dỡ hàng, thấy bàn tay các phu bến đổi người ở cuối một gùi. Phía sau, đường qua đèo đã mở chậm bằng những ca có tên, vẫn còn mùa đất phải xem lại. Phía trước, Hạ không chờ một người nghe được mọi nguồn về. Anh gấp thư vào ngăn sẽ mở đầu tiên, giữ buổi tối để ăn và ngủ trước chuyến sông, để ngày về có sức nghe điều thật sự đang được hỏi.
Chương 73: Đường nứt trên bát
Quyển V — Phần nước để trống