Chương 25: Chiếc xuồng không đủ chỗ
Quyển II — Dưới đồng muối
Thoa không cho An bước xuống trước khi đặt đủ hai kiện gốm vào xuồng. Chị xếp nặng ở giữa, thử bằng hai bao cát tương đương người đi rồi mới đánh dấu mép tải. Khi bao được nhấc ra, anh ngồi đúng chỗ, nhận mái chèo phụ. Cái hộp giấy rỗng nhẹ nhưng cồng kềnh, buộc cao ngoài phần nước có thể lên, không đặt lên kiện chỉ vì nơi đó vừa một khoảng đẹp.
Họ giao kiện đầu ở bến trong. Người nhận mở ngay trước mắt Thoa, thấy dấu mẻ, đếm số vòng, nhận cả phần một chiếc có mép thô đã báo. An đứng giữ xuồng chứ không lên bờ giúp đếm khi chưa có người thay. Qua chuyến đi ba ngày tới Cồn Sậy, anh đã hiểu nhìn dây buộc tưởng chắc không làm một chiếc xuồng đứng yên vì người trên đó bận chuyện khác.
Bến thứ hai vắng. Người giữ quán nhận chuyển lời khách đi lên lạch, có thể xế mới về, bảo cứ để kiện dưới mái. Thoa nhìn chỗ kê, đất ướt tới mép ván và chẳng ai nhận đếm hàng. Chị chọn mang trở lại, ghi giờ tới để Nghiêu biết vì sao chưa giao. Người quán cười nói thợ gốm cẩn thận tới mức chở đá qua lại. Chị đáp đồ chưa được người mua nhận vẫn là công người làm đang ngồi trên xuồng cùng mình.
An muốn chờ thêm, nhưng thuyền giấy ngoài bến chỉ ở tới trưa. Họ còn một lượt nước đủ tới và một lượt về, qua đó phải ngủ lại. Anh nhìn kiện còn chiếm chỗ, xác nhận giấy sẽ vào chỗ kiện đầu đã giao, không thêm trọng lượng ngoài mức. Thoa giữ tay trên thanh mạn, đợi một luồng gió qua rồi mới đẩy ra. Bãi trắng lùi khỏi mắt, mặt lạch phẳng tới mức khó tin dưới đó đã có những đường đổi ngược nhau.
Thuyền giấy neo ngoài cọc lớn, hàng được chuyển bằng bàn gỗ tới xuồng con. An đưa tờ nhận của Miên, nhờ giữ kiện trên mặt bàn cho tới lúc kiểm xong, không thả thẳng xuống đáy xuồng. Người chở mệt vì nắng, vẫn đưa mẫu ở mép trên và mép dưới. Một góc bọc ngoài dính hơi mặn; phần giấy kín bên trong chưa có dấu ấy.
An dùng đúng phần nhỏ Miên đã giao làm đối, trên tấm lót mang riêng từ lò. Anh không thử thêm kiểu mới vì có người đang chờ. Hai mẫu cùng mẻ đủ giống ở lượt đã được dạy, tờ của Miên vẫn giữ riêng, không đem trộn vào hàng nhận. Anh báo phần bọc ngoài phải đổi, người chở lấy vải kho chưa qua mũi thuyền bọc lại. Cả hai ghi chỗ đã kiểm, không ký rằng bên trong mọi cuộn đều chắc sẽ đúng.
Hộp mẫu về xuồng, nhẹ hơn kiện gốm còn lại. Thoa xê dịch một chút rồi trả về vị trí đã đánh dấu, để xuồng không nghiêng vì hai bên nặng nhẹ khác nhau. An ngồi thấp, giữ hộp khỏi quệt mạn. Người chở ném xuống một lá thư gửi lò, anh không với khỏi mép; nhờ đưa qua cán, đợi tới khi nó nằm trong tay mới cất vào ngăn khô.
Trên đường về, họ thấy nước rút qua chân lau nhưng que buộc lưới đã bắt đầu xoay về phía ngược. Thoa chọn lối ngoài, không cắt qua bãi cạn dù bến nhận gốm ở đó có thể đã có người. Chị nói sẽ giao sau, chậm giờ là phần phải tính, không đủ lý do để đi vào một khoảng đất đang giữ nước từ dưới. An nhìn mực ở mạn dưới dấu tải, đặt chân ngay ngắn để không kéo xuồng theo ý nghĩ đang muốn nhanh.
Tiếng gỗ va nhau vang phía sau. Anh thấy Thoa ngẩng lên, môi gọi lớn một câu gió đẩy khỏi phía tai phải. Chị chỉ, anh quay người vừa đủ nhìn. Một chiếc xuồng đánh lưới mắc dây ngang cọc, mũi đã bị kéo nghiêng. Người trên đó đang gỡ chân khỏi cuộn lưới, mỗi lần chuyển tay, mạn lại xuống thấp hơn.
Thoa không đưa xuồng sát chỗ dây căng. Chị giữ phía nước ngoài, bảo An lấy cán gỗ dài và dây rảnh dưới ghế. Anh kéo ra, sợi đầu vướng quai kiện gốm. Phải gỡ một nút trước mới có đủ đoạn, trong lúc tiếng người bên kia chuyển thành một tiếng hụt giữa nước. Anh không cắt cả dây kiện, luồn đoạn rảnh qua để phần hàng không trượt vào chân họ trước khi giúp được ai.
Chiếc xuồng lưới lật một nửa. Người đàn ông rơi xuống, bàn tay vẫn mắc trong một vòng gần cổ tay. An quăng đầu dây tới, gió đẩy lệch. Thoa chuyển mái chèo, cho họ tới được một khoảng khác ngoài dây lưới, anh đưa cán để người ấy có thứ nhìn thấy và bám. Khi cán nặng xuống, hai vai anh bị kéo về trước. Chị gọi tên anh, bàn tay giơ ngang tầm mắt nhắc đừng đứng.
Anh giữ thấp, đẩy phần cán tựa vào thanh xuồng, để sức kéo không dồn cả lên hai ngón đã sẹo. Người đàn ông buông được vòng lưới, bám cả hai tay. Thoa ghì mái, miệng xuồng họ chạm nước ở phía kiện còn lại. An thấy dấu tải biến mất dưới vệt mới, hiểu không còn chỗ cho ba người cùng kiện nặng, dù ngoài mặt nó vẫn vừa đúng hình họ xếp ở sân.
— Kiện gốm — Thoa nói. — Bỏ ra.
Anh nhìn dây buộc. Trong ấy có những vòng Nghiêu đã giữ lửa, Thoa đã chở qua hai bến, người mua còn đợi đếm. Người dưới nước trượt một bàn tay. An thả một nhịp cán cho tựa chắc, cầm dao cắt đúng quai giữ kiện với xuồng, không chém qua dây người đang bám. Kiện nghiêng, anh và Thoa cùng đẩy bằng chân ra khỏi phần người sẽ lên.
Nó chìm rất nhanh. Một góc vải nổi, kéo thành đuôi dưới nước rồi mất. Mạn xuồng nhấc lên đủ cho Thoa kéo người đàn ông sang chỗ vừa trống. An giữ cán cho tới khi thấy đầu gối người ấy trên sàn, mới buông một tay. Không có lực nào được gọi qua người anh, không có bể sáng nổ giữa lạch. Chỉ có ba người thở gấp trên thứ vừa nhẹ đi bằng công nhiều ngày của một lò.
Người đàn ông cúi ho, nước từ áo chảy vào đáy. Thoa đổi hướng tới doi đất cứng gần nhất, không quay tìm kiện. An giữ hộp giấy cao, còn một góc bọc ngoài bị nước bắn; phần ấy đánh dấu lại ngay để người kiểm biết. Anh muốn lấy đan hay làm điều gì bằng linh lực giúp người vừa lên, rồi nhớ không biết phần việc ấy. Anh chỉ lấy vải khô, đỡ người ngồi theo cách họ tự thấy dễ thở hơn, chờ người trên doi chạy tới nhận giúp.
Họ cập được. Người ở doi nhận người đàn ông, đi gọi người chữa và người nhà, một người khác kê ván để xuồng khỏi xô. An giao đủ điều đã thấy: mắc dây, rơi nước, lên lúc nào, không nói đã ổn chỉ vì người ấy còn trả lời. Mái chèo nằm ngang giữa anh và khoảng lạch, cán gỗ còn vết bàn tay trượt. Anh nhìn về cọc lưới, thấy chỉ còn một đầu xuồng lật và dây căng, không có góc vải nào để mình tự tin quay lại cứu hàng.
Họ về lò chậm quá giờ đã ghi. Hộp giấy được đặt ở bàn khô trước, Miên và Vân mở phần mép bị bắn, giữ riêng cuộn gần đó để đối thêm. An kể việc ngay khi Nghiêu bước ra, không chờ có tờ đo sạch mới chọn lúc bớt khó nói. Thoa đặt con dao và dây kiện đã cắt trên bàn, nhận chính mình đã quyết bỏ hàng khi mạn xuồng chìm quá dấu tải, không để một người từ xa đứng ra gánh hết lời kể.
Nghiêu nhìn ô trống trên danh sách. Ông ngồi xuống, lấy tay vuốt lên đúng tên mẻ, một lúc không hỏi gì. An đứng bên, cổ tay còn run, không dùng người được cứu như một câu bảo ông không nên tiếc. Ông đã cùng những bàn tay khác làm kiện ấy. Có người tối nay sẽ tính công mình bằng một phần tiền hàng không còn ở trên xuồng nữa.
Thoa nói người ở doi đã ghi việc cứu và người nhận, địa chỉ còn đây. Họ sẽ báo với khách chưa nhận kiện, nhận phần chậm đã ký và bàn riêng khoản mất, không đưa giấy mới tới như thể chuyến này chỉ thành công. Nghiêu hỏi có thể tìm lại hàng không. Chị đáp không nhận trở lại lạch lúc dòng ấy, chưa đủ biết vị trí. Ông gật, thôi hỏi tiếp bằng cách có thể buộc chị ra lần nữa vì thấy mình tiếc.
An lấy tiền công còn lại đặt ra, không đủ giá kiện. Nghiêu chưa cầm, yêu cầu đếm rõ tiền của ai: có tiền đường về của Vân trong phần gửi nhờ, phần ấy không thành tiền chung khi xảy ra việc khó. An tách ngay, ghi số mình thật có. Thoa có phần công giao hàng phải nhận trách nhiệm theo điều đã ký, nhưng việc cứu người sẽ được nói rõ với khách trước khi nhận toàn một khoản phạt người ta chưa đối.
Họ không giải xong số nợ trong một buổi. Nghiêu nhận phần thiếu đã khiến lịch giao của lò trễ, sẽ tới cùng họ nói với người mua, không sai thợ quay lại một mình nhận hết giận. An nhận công nối bể thử chưa thu, không đem nó hứa bù cả kiện trước khi biết còn đủ sống qua chặng khảo sát. Chưa ai được nhẹ, nhưng từng khoản đã rời khỏi cái bóng lớn gọi là tất cả lỗi của chuyến đi.
Miên gọi An tới bàn giấy. Mẫu lấy từ cuộn sâu vẫn nhận như phần đối, cuộn sát góc ướt còn phải để riêng. Cô không bảo ít nhất giữ được giấy nên đừng nghĩ kiện gốm nữa. Cô đưa anh tờ kết quả, để nó nằm cạnh bản báo hàng mất, hai điều trong một chuyến không xóa nhau. Vân tới xin giữ lượt kiểm góc ướt cùng Thoa sau bữa, không đòi theo ra lạch tìm lại thứ mình chưa biết đường lấy.
Trời tối, người từ doi tới báo người đàn ông đã được đưa về nhà, có người chữa ở đó. Họ gửi lời cảm ơn, chưa nói trả được gì; cả chiếc xuồng lưới cũng là sinh kế vừa mất. An nghe, nhờ chuyển mai khi đủ sức kể lại đoạn dây đã mắc thế nào để người giữ cọc biết. Không có món quà khiến tiền hàng quay lại, cũng không cần món quà để quyết định kéo người lên trở thành đúng.
Thoa ngồi ở quai xuồng, luồn một đoạn dây mới qua lỗ. Chị làm nhanh như buổi sáng, tới nút cuối đầu ngón run, dây tuột hai lần. An ngồi bên giữ thanh gỗ, không lấy dây làm thay. Chị nhìn tay mình, đặt xuống đùi, nói lúc người bám cán trượt một tay chị đã tưởng không giữ được. Câu nói rất nhỏ, anh phải nghiêng tai phải gần hơn rồi mới nghe đủ.
Anh không đáp bằng việc cuối cùng họ giữ được rồi. Chỗ trượt ấy đã có thật dù người kia đang có người nhà ngồi cạnh. Anh nhờ Thoa mai chọn đúng người tới kiểm quai, đêm nay buộc đánh dấu chưa dùng là đủ. Chị tự buộc một mảnh vải ngang để không ai tưởng đã sửa, đặt phần dây còn lại trên bờ khô. Nghiêu từ cửa mang đèn ra, nhìn dấu, không giục làm nốt vì chỉ thiếu một nút. Ông nhận giữ đèn cho hai người kéo xuồng cao hơn, để việc sáng mai nằm yên qua đêm.
An ra sân rửa bùn trên con dao, lau khô rồi trả Thoa. Hai người cùng gấp đoạn quai còn lại, giữ nó với bản báo thay vì vứt xuống đống dây hỏng. Ngoài bến, xuồng nhà lò được kéo cao, dấu tải sáng nay lại lộ trên mạn. Chỗ vừa bỏ kiện trống và ướt. An bước qua đó để lên bờ, trở lại lò kiểm tờ nhận cuối cùng Miên đang giữ, chậm hơn giờ cũ một chuyến nước.
Chương 26: Vết mặn trong bùn
Quyển II — Dưới đồng muối