Chương 38: Người ngủ trên chòi
Quyển III — Mùa bùn thức dậy
An thức vì sàn rung, không phải vì nghe Trầm xuống thang. Chị đang đứng trên bậc cuối, lấy chiếc giỏ buộc dưới mái, ánh đèn che chỉ hắt vào tay. Anh ngồi dậy, quay tai phải tới hỏi có việc gì. Chị chỉ về phía lạch, giờ lấy cá trước lúc nước đổi. Mấy người khách được ngủ tiếp, ca ấy không nằm trong phần dẫn đường chị đã nhận với họ.
Anh muốn xem, xin đi phần ngoài để hiểu lối. Chị đợi anh mặc áo rồi mới bước, không nhận chuyện vừa ngủ dậy là đã đủ tỉnh để theo mọi vạt bùn. Miên mở mắt hỏi bao giờ về, anh nói trước bữa sáng, để lại tờ lối đã có. Vân còn nằm sát hộp giấy, An không gọi chỉ vì người học thường muốn biết tất cả việc người lớn làm trong một ngày.
Trầm đưa anh một cán đẩy, nhắc con dao Thoa cho mượn giữ trong vỏ, đêm nay không có gì cần rút vội. Chị xuống xuồng nhỏ cất bên chòi, An ngồi phía chị nhìn được vai. Không có phên và đồ nặng, xuồng đi được lối nông hôm qua họ phải vòng. Anh đặt đầu cán xuống nước, thấy đáy có chỗ gần tới mức chỉ một ngón sào, chỗ sau lại hụt sâu, chưa đi hết hai sải.
Chị dừng ngoài một lùm rễ, giữ xuồng rời phần có giỏ. Tấm đăng thấp nằm dọc lối nước, không bít hết mặt; một đầu được mở rộng hơn đầu kia theo giờ chị dự tính tới nhấc. An thấy ở nơi sáng hơn có một chỗ mòn như tay cầm, định giữ giúp, chị chặn bằng que: phần ấy đang nhận sức nước, nhấc sai đầu sẽ úp giỏ vào cả dòng.
Chị mở nút phía bờ trước, hạ cán từ ngoài rồi mới lấy phần có cá. Tiếng đập nhỏ vang qua lòng xuồng, anh nghe được nhưng không biết con nào đang ở bên trái. Chị nhờ anh giữ giỏ thấp, đừng đưa tay bắt theo tiếng. Một con nhỏ rơi khỏi vành, tự lách qua khe còn chừa. An nhìn theo, lần đầu trong ngày thấy một công cụ không giữ hết điều mình chạm tới mà vẫn đủ làm nghề của người đang dùng.
Mẻ sáng không đầy đáy. Trầm nhặt một con bụng dày, giữ riêng, mấy con dài mảnh nhận bán ở bến. An hỏi để con bụng dày làm giống sao. Chị bật cười, bảo con ấy bị mắc dưới rễ lâu, vây rách, đem sống tới chợ dễ chết giữa buổi; chị để ăn chứ không được người mua trả như cá lành. Con nhỏ vừa thoát là loại chưa tới cỡ nhận, khác chuyện một con đã thương chị phải tính cách dùng.
Chị gói hai phần bằng lá khác nhau, Vân từ hôm trước đã vẽ hình giỏ nhưng chưa có cái nào giống cách chị cột miệng khi nước còn nhỏ. An nhận giữ xuồng trong lúc chị đặt lại đăng, nhìn một lối rễ sau khi dụng cụ đã rời. Nó không thành một đường trống sạch như miệng gốm mới rửa. Lá, cọng khô, một dòng nhỏ và khoảng cá tới còn nằm cùng nhau trong bóng tối ấy.
Trên đường về, họ gặp một người nhấc giỏ khác ở nhánh ngoài. Hai người trao một ít tin về bãi cạn, không đổi hết cá làm một mẻ đầy cho đẹp mắt khách. Người ấy kể đêm qua có xuồng lạ chạy ngang làm đăng sụp, hôm nay phải vá trước ra bến. Trầm hỏi chỗ để sợi thay, nhận giúp một lượt sau khi bán xong. An đứng ngoài câu hẹn, biết phần ngày chị đã nhận dẫn mình còn phải đứng cạnh những hẹn nghề từ trước.
Gần sáng, gió làm mặt nước có một lớp gợn đều, phía rễ thấp lại không theo cùng lượt. An muốn áp đầu gỗ xuống nghe, mở túi thấy thước vẫn ở chòi. Chị bảo nếu chỉ tới lấy cá thì không cần mỗi người mang cả bộ đo. Anh ghi mốc bằng sợi vải lên cán, xin chiều trở lại đúng nơi, không tự gọi nhịp nhìn thấy thành điều mình đã đo bằng vật liệu.
Trầm nói trước khi kè dựng, có những buổi xuồng được đẩy thẳng vào tận chỗ hiện cạn. Sau đó cá chuyển nhánh, lau giữ nước kém ở một khoảng và đen gốc ở khoảng khác. Chị phải dời đăng, dời cả chòi nhỏ này theo công cắt, mà người ở sau kè gọi bãi ngoài là đất chưa dùng. Anh nhìn sàn chòi lộ giữa gốc thấp, chưa hỏi sao chị không dựng một nền đứng yên như nhà trong ruộng.
Chị tự trả lời lúc kéo xuồng lên: có lúc đặt chòi ở đây để tới đăng kịp, có lúc lên bến ngủ nhà người thân khi nước lớn. Chòi không phải căn nhà duy nhất chị muốn người tới cứu, nhưng có đồ, có công và có giờ sống trong đó. Nếu nhóm muốn mở nước qua phần ngoài, họ phải tính cả nơi chị đang ngủ tối ấy, không chỉ tìm những nhà lợp ngói dễ nhìn từ bờ kè.
Sau bữa, Trầm đem cá ra bến, nhận bán phần đã phân, về với gạo và sợi để giúp vá đăng. An giữ đúng giờ hẹn đi cắt lau cùng chị, Miên ở chòi đối hai nét đường từ hôm qua, Vân theo một đoạn để ghi cách cột bó. Trước khi đi, chị còn phải xoay mấy phần cá phơi dưới mái. Chỗ sát vách đã khô mặt, giữa bụng còn mềm, cần thêm nắng nếu không phải đưa gần bếp cho khỏi hỏng.
An hỏi có phải muốn nước tới sớm thì chị phải nhận cả những ngày không phơi được. Chị nói mưa tới mùa là điều phải có, chứ không phải ngày nào người đánh cá cũng chỉ muốn đầy nước hơn. Có ngày cần đi vào, có ngày cần rút, có lúc phải nhấc đăng cho nhánh nghỉ. Chị đang kể giờ của công mình, không nhận đứng thay cả đầm mà gọi đúng mọi giờ nước. Vân xin vẽ giá phơi bên cạnh hình đăng, chị giữ mép tờ cho cậu hoàn thành trước khi mang sợi đi. An lấy hộ hai thanh đỡ ra nắng vừa, kê phần chưa khô ở trên để gió tới, để người cần về xem chúng còn nhìn được khi đứng ngoài cửa.
Họ tới nơi gốc khô ở dưới bóng một phần bờ, nước không đọng trên mặt, que vẫn mang bùn ướt từ dưới lên. Trầm ngồi xem lưỡi dao, mài lại bằng hòn nhỏ mang từ nhà, không lấy một cạnh cùn chặt mạnh vào gốc rồi để đường xước kéo dài. An đợi chị cắt thân đầu, nhận một bó đúng chiều để khỏi gập mặt dùng lợp, mới thử bó tiếp theo.
Trầm chọn thân đủ già, cắt nghiêng để gốc còn nhả phần nước nhận tới. An lấy một thân giòn lên xem, mảnh gãy dọc tới gần gốc, không phải vết dao của chị. Anh xin so ở nơi còn xanh, giữ hai mẫu cùng giờ. Chị chỉ được chỗ cần tới, nhưng nói hôm nay phần đó nhà khác đang cắt, phải hỏi trước nếu nhấc gốc. Không phải mỗi người biết gọi tên lau đều có thể lấy mọi phần lau khỏi bãi.
Hào tới với một bó dây nhận đổi, đứng ở rìa chờ chị buộc nốt. Anh ta đã nghe chuyện muốn khảo sát và xin chiều hôm ấy dẫn qua ruộng. Trầm hỏi có thể cho xem ngay chân kè nơi nhánh cũ đi vào không. Hào đáp được xem phía ngoài, chưa mở gì, bên trong còn lúa non và kho thấp. Chị siết sợi cói, một thân gãy ở đầu bó, bảo phía ngoài cũng có người sống chờ mãi trong lúc lúa trong cứ được nhắc tới trước.
An đứng giữa hai người, nghĩ tới câu mình đã nói về ruộng hôm qua. Anh xin họ cho đo đủ trước khi quyết mở, tưởng đó là phần cả hai đều đang muốn. Trầm quay nhìn anh: nếu đủ nghĩa là phải đợi tới khi người trong gặt xong mới được nói cá đi đâu, mình có nghe cái ngoài đầm đang mất không. Anh ngừng, nhận chưa có ngày đo đủ nào trên giấy, cũng chưa nhận ai có quyền bắt chị chờ hết mùa của người khác.
Hào đặt dây xuống, nói kè cứu mái kho và lúa thật, không thể tháo chỉ vì ngoài có người nghe một luồng không thuận. Anh ta không quát, giọng thấp làm An phải quay bên phải mới nhận rõ. Trầm đáp biết có lúa, chị từng chở phên vào lúc kè còn đắp; phần của chị cũng mất từng ngày thật. Cả hai nhìn anh như đợi một câu chọn bên, điều mà một thước gốm sạch chưa đem tới được.
Anh nhờ giữ việc chiều qua ruộng như hẹn, giờ xem ngoài đầm tính riêng với người đánh cá, cả hai có tên và chỗ chép phần mất. Hào nhận dẫn một buổi, không nhận nói thay các nhà. Trầm tháo dây vừa siết quá tay, làm lại bó để còn bán được, chưa có lời đáp vui. An cúi xuống giữ đầu bó theo chỗ chị chỉ, làm nốt phần việc đã đứng cùng trước khi mang cái chưa giải vào bữa tối.
Chiều ở chân kè, Hào cho xem mép bên ngoài một đoạn, rồi dẫn họ qua đường ván tới nhà mình. Phần ruộng sau bờ thấp, lúa mọc không đều nhưng có những dải xanh, một người đang nhổ cỏ bằng tay giữa bùn tới gối. An hỏi vụ trước được bao nhiêu, anh ta gọi người cùng làm tới nói đúng số nhà giữ, không lấy phần tốt nhất cả ruộng kể như mọi nhà đều thế.
Một góc kho còn thay mái bằng phên hôm qua. Hào chỉ dấu nước cũ trên chân cột, nói trước khi đắp kè có mùa thóc vừa phơi phải gánh lên chỗ khác suốt đêm. Trầm đứng ngoài cửa, nhận mình từng có mặt trong một đêm ấy, không bảo họ bịa chuyện khổ để giữ đất. Chị chỉ qua ô cửa về bãi chòi, hỏi những dấu nước sau khi kè đổi có được ghi cùng dấu trên cột này không.
Miên tới sau khi đã đối xong lối vòng, đặt hai tờ cạnh nhau trên chiếc bàn Hào cho dùng. Cô nhờ mỗi người đánh chỗ được phép xem và chỗ cần người khác tới. Trầm đánh mấy nhánh ngoài, Hào đánh đường ván và chân cột, hai phần còn một khoảng giữa chưa ai nhận dẫn. An để trống, xin tên người giữ đất ở đó thay vì kéo một nét từ phần quen sang phần quen khác cho liền hình.
Hào nói người trông kho có sổ cũ về cọc, có thể đã ghi trước lúc quai bờ. Người ấy sẽ về sau phiên chợ sáng mai, Hào nhận tới hỏi. Trầm cần đưa mẻ cá hôm sau ra bến rồi mới rảnh, An tính một lượt đo ngoài trước, một lượt sổ sau. Hai giờ khác nhau giúp họ bắt đầu mà không phải giải hết bất đồng ngay trong căn nhà của một bên.
Về chòi, chị trải đăng cần vá dưới đèn. An nhận xâu sợi theo đúng mắt chị đã đánh, lần đầu làm to hơn một hàng, bị chị gỡ trả. Anh đang mệt vì phải nghe những câu chưa có phần mình đáp được, tay muốn kéo nhanh cho xong. Chị chỉ con cá cỡ ấy đã có thể lọt qua, nhờ làm lại chậm. Anh nới sợi, nhìn khoảng giữa các mắt dưới ánh sáng thay vì nhìn số hàng đã xong.
Trầm đi ngủ muộn hơn khách vì còn treo cá và đặt giờ lấy mẻ đầu. An nghe chị trở mình trên phần sàn vừa kê hôm qua, bên dưới nước chạm chân gỗ một tiếng rất nhỏ. Anh chưa gọi chị là người có thể dời đi bất cứ lúc nào chỉ vì chòi nhấc được. Ngoài đầm, có lối phải tới trước sáng mới nhận được một giỏ cá; trong kè, có mái kho phải che trước mưa. Sáng mai tờ đo của anh cần có cả hai giờ ấy, trước khi có thể hứa đổi một giờ nước.
Chương 39: Cọc cũ giữa ruộng mới
Quyển III — Mùa bùn thức dậy