Chương 21: Chỗ nước quay đầu
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 21 / 86

Chương 21: Chỗ nước quay đầu

Khoảng 12 phút đọc

Quyển II — Dưới đồng muối

Chiếc vò còn một chấm sáng khi An tới bàn lúc sáng. Thoa đã ghi giờ vòng bên cạnh tắt, để chỗ vò trống vì chưa hết. Anh đọc, chạm tay lên gỗ chứ không chạm mẫu. Trước kia một ngọn đèn nhận lực chậm thường do mối đầu yếu; ở đây thứ làm anh lo là phần vào đã tháo từ hôm qua mà thành gốm chưa chịu trả xong.

Miên đưa bản giếng. Hai lượt hôm trước cách nhau chưa đủ kỳ đổi, cô đã đánh dấu đầu nhận có thể thấp hơn vào buổi chiều. An nhìn chữ có thể, hỏi nó dùng để chọn thời gian khảo sát hay để mở thử. Cô đáp mới chọn khảo sát. Anh vẫn xin mang bản ấy theo để tới nơi đối, vì một dấu thấp trên giấy rất dễ được người đang khát nhớ thành giờ có nước.

Người giữ giếng tới là bác Kha, đội chiếc nón vá bằng dây lau. Bác đem que gỗ có các vòng vải buộc theo ngày, mỗi vòng nhận ra bằng mắt mà không cần đọc chữ. Bác nói đi trước khi gió mạnh, lúc về có thể phải đổi lối. Vân hỏi mực nước có dâng tới đường không. Bác chỉ bãi trắng, bảo đôi khi trên mặt còn khô, dưới đã giữ chân người.

Nghiêu ở lại lò, Thoa cùng đi vì cần xem nơi các vòng nhà mình nứt. An mang một vòng đã hết ánh làm mẫu, để chiếc vò ở giá, không đem vật chưa biết đã lắng vào bờ giếng. Họ ăn trước lúc rời cửa. Vân nhớ lời hẹn hôm trước, tự lấy thêm nước cho chặng đi, không đợi tới bãi khát mới xin cả đoàn quay lại.

Qua ô muối đầu, Miên dừng chấm giấy. Vệt ở mép kéo dài, phía giữa nhạt, giống kết quả đã thấy ngoài giếng bến. Cô ghi giờ theo người giữ giếng thay vì lấy riêng đồng hồ ở lò làm mốc. Bác Kha cắm que vòng vải, nhìn nắng trên bờ lau và bảo hôm nay nhịp ngoài lạch tới chậm. An nghe một tiếng dài dưới đá, chưa thấy nước thay đổi. Anh bước thêm một bước, cố xác định nó đi về đâu, chỉ nhận một vùng âm dồn ở tai phải.


Lối băng bãi đi qua một lớp váng trắng dày. An nhìn vết chân người trước, đặt chân vào gần nó. Đất dưới đột ngột nhún, gót lún qua mắt cá. Anh rút lên, lực hút kéo cả đế dép, phải dừng thay vì giật tiếp. Thoa đưa cán gỗ ngang, không kéo tay anh từ bên cạnh vì chỗ chị đứng cũng mềm. Bác Kha trải mảnh ván mang theo tới phần đất cứng hơn, nhờ An chuyển dần trọng lượng rồi mới nhấc chân.

Ra khỏi hốc, anh nhìn xuống lỗ chỉ vừa chân, nước đục đang thấm lên từ dưới. Mặt trắng cách vài gang vẫn khô, không có vệt tràn báo trước. Miên cắm que ở hai bên lối, hỏi lớp nước ấy liên hệ giếng thế nào. Bác Kha bảo bác biết lối nào dễ giữ chân theo từng kỳ, chưa biết gọi dòng dưới bằng tên họ dùng. Bác chỉ đường vòng đã đi, không nhận một tiếng thông thạo của khách làm mình hiểu đủ điều giấy vừa báo.

Vân sửa nét trên bản đường. Nét cũ do cậu nhìn từ thuyền, cắt thẳng bãi như mặt sân. Cậu giữ lại nét ấy mờ, vẽ lối mới bằng dấu chân người dẫn thay vì xóa để trang sau trông từ đầu đã đúng. An ngồi đổ bùn khỏi dép, nhận ra đi qua đất mới cũng có thể làm người ta nôn nóng giữ cho hình vẽ của mình đẹp. Anh đã mắc bằng chân trước khi kịp mắc bằng chỉ.

Họ tới ba cọc ven lạch. Một cọc nghiêng về phía nước, hai cọc còn lại thẳng. An tưởng có nền lún lệch, bác Kha chạm dây: cọc nghiêng dùng giữ lưới, người chủ vừa kéo từ sáng. Mốc giếng là tảng đá khắc dưới gốc lau bên cạnh, không phải bất cứ cái gì trông giống thước trên bờ. Miên chép hình tảng đá, nhờ Thoa chỉ đúng chỗ đặt các vòng gốm cũ trước kia.

Thoa đào bằng que một mảnh còn nằm dưới lớp đất. Nó có dấu nhà lò, đường nứt vắt ngang vành ở phía quay ra lạch. Chị nói người đặt đã thay nó hai lần, không đem mẫu về vì tưởng chỉ là một chiếc chịu lực kém. An chừa nguyên chiều nằm, đặt vòng hết ánh của mình cách đó một khoảng đủ không chạm, chờ Miên ghi cả hai điểm. Lần này họ có một vật đã ở tại chỗ, không chỉ chậu nước mang về bàn.


Buổi đầu giếng nhận lực từ hướng bãi về. Mặt nước đầy, đường trả kéo ra lạch chậm nhưng còn phân được. An dùng một thanh gỗ áp lần lượt hai bên, cùng phía tai phải và cùng tay, không cố đứng giữa để nghe hướng bằng phần tai đã mất. Lần thứ hai phải nhờ Thoa giữ que thật yên, vì gió làm góc chạm khác đi. Kết quả có thể đối khi chậm, không có ích nếu anh giả vờ chỉ một lượt là đủ.

Miên đọc giấy, nói phần giữa đang nhạt hơn, giống mức cô ghi có thể thấp chiều nay. Bác Kha vẫn không rời que vòng vải. Nước trong lạch lên một vệt, rồi đứng, nắng còn chưa chuyển nhiều. Vân hỏi có phải kỳ đổi đã tới. Bác nhờ nhìn lá lau ở mép dưới, đầu lá bắt đầu nằm ngược dù trên mặt lạch dòng còn đi cùng hướng.

An thấy vòng mẫu của mình sáng lên từ phía ngược. Mối đầu anh chỉ đặt để bắt dấu, không khép thành vòng, vậy mà phần sát giếng bỗng rung trước phần gần bãi. Anh báo dừng chạm, nhấc tay khỏi thanh gỗ, để chỉ thử nằm nguyên ở khoảng đất đã chừa. Thoa lùi khỏi mảnh cũ. Vân nâng mảnh vải trắng cho cả người đang đứng phía gió thấy đã có dấu cần chờ.

Dòng dưới đất quay đầu. Không có lớp nước lớn tràn qua bờ. Chỉ một nhịp sâu đổi chỗ, kéo linh khí từ giếng ngược về phía các ô mặn. Vòng mẫu sáng ở mép vốn là đầu trả, chiếc cũ nứt có một vệt xanh rịn vào đất. An hạ đầu bắt dấu của mình theo phía thấp mới thấy, không đóng lối cũ lại vì nó đã thành đường vào. Mẫu ngừng sáng mạnh, còn một lớp giữ trong thành như ở lò.

Miên nhìn giấy, đổi vị trí đầu que để kiểm. Vệt giữa nhạt hơn nữa. Cô đã đọc độ nhạt theo cách quen như lực đang hạ; ở đây lực đổi hướng và nước mặn có thể làm mực không nhận như trước. Cô lấy tờ mới, ghi đủ giờ mà không tô đậm kết quả cho giống rung An vừa nhận. Hai dụng cụ đang nói khác, cả hai đều chưa được phép thay phần còn lại bằng suy đoán.

Khi mặt lạch cuối cùng chuyển, lá lau đã nằm ngược hẳn. Bác Kha buộc thêm một vòng vải vào que, chỉ khoảng từ lúc đất đổi tới lúc mặt nước đổi. Đó là khoảng người lạ hay tưởng còn đủ giờ mở nhánh. An nhìn mảnh gốm cũ, hiểu vì sao một đầu trả đã dùng buổi sáng có thể thành chỗ kéo ngược buổi chiều. Nếu mở đường quen dưới thung ở đây, bể mình định trả lực sẽ có lúc trở thành đầu hút.


Họ rút mẫu trước khi về, đánh dấu một ô riêng vì nó chưa lắng hết. Bác Kha chọn lối cao hơn, không đưa họ qua bãi vừa giữ chân An. Miên ở lại thêm một lượt đo, Thoa đứng cùng; An và Vân đi trước tới giếng đầu bến để đối nhịp tại đó. Một người chủ muối hỏi đã biết lúc nào nước sẽ hết mặn chưa. Anh chỉ đáp biết có lúc đường dưới đổi chiều trước mặt lạch, chưa biết bỏ phần mặn bằng cách nào.

Người ấy muốn anh bóp nhánh quay ngược. An đặt mẫu có dấu chờ ra xa người đứng, hỏi nhánh còn lại có nhận được phần lực dội không. Không ai đã đo. Người chủ muối cau mặt, nói người trước cũng hỏi rồi mang giấy đi. An nhận câu ấy, đề nghị cùng bác Kha chọn một lần đo có người chủ đứng nhìn đủ cả kỳ, để vật đã thấy không lại biến thành chỉ lời kể. Anh không lấy câu trả lời chưa có làm lý do đòi mọi người cứ tin.

Người chủ muối tự xưng Thực, nhờ An nhớ ô nhà mình vì ngày mai phải ra thuyền bán hàng. Anh chỉ những bao trên vai người đi qua, bảo nếu đóng cả bờ mặn sẽ mất vụ, chỉ muốn chặn phần quay vào giếng. An nhìn lạch nối các ô, chưa biết có tách được hai việc ấy bằng một chỗ bóp hay không. Lời muốn ngọt không khiến người này thôi cần muối, cũng như một chiếc giếng đủ lực chưa làm bình nước trên thuyền bớt đắt.

Thực cho họ xem đoạn bờ mình được quyền mở, phần kia chung với hai nhà, muốn qua phải hỏi người đang giữ lượt. Anh không hứa cả ba sẽ đồng ý, nhưng nhận dẫn tới nói nếu đo đủ kỳ đúng như An đề nghị. Miên còn ở bãi, An chỉ ghi giờ họ có thể gặp, để cô nhận lời phần mình khi về. Vân vẽ ô Thực bằng dấu bao hàng và đầu lạch, xin anh nhìn lại để mai không gọi nhầm người chỉ vì mỗi ô đều trắng như nhau. Thực sửa vị trí bờ, trả bút, nhấc gánh đi. Cuộc hỏi ngắn có một nơi và một người để trở lại, chưa có thêm lời bảo đã tìm được cách cứu cả vùng.

Tới lò, Nghiêu đã chuyển chiếc vò sang ô nguội, đốm cuối tắt sau khi họ đi buổi sáng theo giờ ông ghi. Vòng mang ra bãi lại giữ lâu, hai lượt không thể gọi là cùng thời gian chỉ vì dùng một loại gốm. An đặt mẫu trên giá riêng, báo ông đừng thử nối thẳng ra bể bằng cách họ làm ở ruộng Diên. Bể bên này cần được kiểm cả lúc đường trả đổi thành đường vào.

Miên về sau, đặt ngay tờ có chữ có thể thấp chiều nay lên bàn người giữ giếng. Cô gạch phần dùng nó để chọn giờ mở, giữ phần đo thật ở hai vị trí, nói mình đã đọc hướng theo mực cũ nên suy ra sớm. Chưa có ai mở theo tờ ấy, nhưng nếu không nói rõ, ngày mai một người chỉ nhớ buổi chiều thấp có thể tự làm. Cô không nhờ An kể hộ vì cô bận đo phần khác.

Bác Kha hỏi từ nay có phải bỏ cả giấy cô không. Cô lắc, đặt que vòng vải cạnh ba tờ, chỉ dấu mình xác nhận được và phần còn phải đối bằng mẫu nước khác. Bác nói que mình cũng có hôm buộc nhầm vì đêm không thấy màu, sẽ mang hai người trực tới xem cùng. Nghiêu lấy một chiếc bát làm chặn, giữ tờ sửa mở trên bàn thay vì gấp vào cuối sổ để khách chỉ thấy kết quả đẹp.

Vân rửa bùn ở dép An, bị anh nhắc để tự làm. Cậu đáp đang giữ lượt việc chuẩn bị mẫu, còn phải ghi bùn từ chỗ lún vào lọ nào trước khi rửa mất. An đưa dép, cười vì vừa tưởng mọi bàn tay tới gần đều đang giúp mình. Cậu lấy đủ phần được phép giữ, ghi lối cao về lúc đổi dòng, rồi đem trả giày đã sạch cặn ngoài.

Đêm xuống, An nghe tiếng giếng qua khoảng sân, một nhịp dài khác buổi mới tới. Anh không biết nó từ bên trái hay phải nếu nhắm mắt, nên mở mắt nhìn cờ ở giá và ngọn đèn người trực. Mai họ sẽ tới bậc đá những vòng cũ đã trắng muối, có người dẫn và đủ giờ nhìn một đường trở thành hai phía. Anh đặt bản lối đi mới lên hộp, giữ mảnh vải dính bùn ngoài ngăn giấy, rồi tới bàn ăn trước khi mọi người phải gọi lần hai.

Trang sách tiếp theo

Chương 22: Bậc đá phủ muối

Quyển II — Dưới đồng muối

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!