Chương 39: Cọc cũ giữa ruộng mới
Quyển III — Mùa bùn thức dậy
Buổi đo ngoài đầu tiên bắt đầu sau lúc Trầm mang cá đi, theo phần chị đã chỉ được phép đứng. An giữ thước cùng một cặp mặt còn nguyên dải đối, Miên lấy ba mẫu nông ở gần cọc buộc vải. Vân ghi nơi đất dưới chân đổi từ đen ướt sang nâu có cỏ, không gọi đường màu ấy là bờ cũ khi chưa có người nhớ. Họ chưa đặt chỉ vào mạch, chỉ đọc nhịp tự có từ ngoài phần đất được nhận.
Hai tờ đường vẽ hôm trước lệch nhau đúng chỗ một đám lau che gốc cây. Miên căng dây từ gốc đã biết, lấy cả hai điểm nhìn thay vì chọn nét An vì anh là người dạy Vân. Nét của cậu sát phần vòng xuồng hơn, nét An đã gom hai lần đổi hướng thành một. Anh nhận sửa phần mình, nhờ cậu giữ bản nháp dưới tờ sạch để tới lúc kể lại còn chỉ được cái đã thấy khác từ đâu.
Khi An cúi xuống chân cọc cũ, thân gỗ còn cứng ở phần giữa, mặt ngoài mòn những vòng nước. Có ba vết xiên cùng hướng ở phía không quay ra lối đi hôm nay. Anh nhấc cỏ rời khỏi chân, dừng trước lớp có rễ bám. Miên đo cao độ từ đầu cọc, ghi cả độ nghiêng hiện tại, chưa lấy từng vạch làm mặt nước ngày xưa vì cây gỗ có thể đã lún.
Hào tới đúng lúc họ dọn giấy, mang theo một người lớn tuổi giữ sổ kho tên Dư. Người ấy vừa về bến, chưa mở hộp sổ giữa bãi vì giấy cũ sợ gió. Ông nhìn ba vết trên cọc, bảo còn một dấu ở mặt sau bị đất phủ. An không bới thêm, cùng ông lấy đầu que chỉ phần ông nhớ để chờ đối sổ tại nhà. Có người đứng sau nói dấu cũ là ranh, muốn biết vì sao ruộng lại tới đây, Dư yêu cầu đọc đủ trước khi gán cho nó quyền chia đất.
Trầm trở lại sau buổi bán, nhận hẹn đọc cùng. Chị nhìn hai tờ đường còn để nguyên, hỏi đâu là chỗ cần mình chỉ lại. Vân đưa phần cậu đã vẽ, nhận xin thêm giờ dẫn đúng vòng chứ không chỉ nét tay từ xa. Chị chọn lượt sau ca cắt, lấy tiền công những giờ đã nhận trước khi đi, để ngày của người giữ đầm không bị kéo dài vô hạn vì mỗi tờ mới lại có thêm một câu hỏi.
Nhà Dư ở phía bờ cao, hộp sổ đặt trên hai thanh kê khỏi chân tường từng ẩm. Ông lấy giấy lót, mở dây bằng tay chậm, nhờ Hào giữ cửa khi gió quay. Quyển cũ không ghi của riêng một nhà, có những dòng nhận vật liệu làm cọc, giờ đi xuồng và các đợt nước tới. Trang đầu An hiểu được ít hơn mấy vết gỗ ngoài ruộng; người đọc chữ nghề ở đây là Dư với Miên.
Dư chỉ những lần ghi trước khi kè mới dựng, rồi lần những trang xa hơn tới mùa đầm còn mở rộng. Một nét vẽ mô tả lối xuồng vòng qua đúng gốc cây, cạnh có ba vạch xiên. Miên đặt bản hôm nay bên cạnh, xoay theo hướng đã nhận ngoài bãi. Hướng khớp một phần, khoảng rộng không còn khớp, có chỗ trang ghi nước đi mà hôm nay là đường ván vào kho Hào.
Vân hỏi có phải sổ sai vì người xưa không đo như họ. Dư chỉ dòng sửa ở mép bằng mực khác, tả lần bùn bồi phải dời lối. Người giữ sổ trước cũng đã đổi theo đất lúc đó, không nhận một nét cho mãi về sau. Miên đọc ngày từng chỗ, tách bản của mùa khác ra giấy riêng. An nhìn nét cũ đang được trả lại đúng thời nó có thật, thay vì bị bắt chứng cho điều họ muốn làm hôm nay.
Ba vết trên cọc là dấu chờ tràn, chưa phải ranh sở hữu. Dòng cạnh đó nhắc giữ một lối cho xuồng khi nước dâng tới vạch cuối; thấp hơn có dấu dừng lấy lau ở một khoảng cần để gốc. Dư nói cha mình từng kể mấy lần nước vào rồi rút theo mùa, có năm bùn dày phải chừa nhánh thêm. Ông biết phần lời kể ấy, không tự biến thành người đã đứng ở đó từ mọi trang.
An xin được chép hình cọc, đánh rõ hướng theo nền hiện tại và phần giấy cũ. Dư nhận cho xem ở bàn, không cho mang sổ theo xuồng. Miên tính công chép và giấy riêng đã chuẩn bị, nhờ ông đối từng đoạn ký hiệu mình chưa biết. Một chữ chỉ lượng bè vật liệu bị cô đọc thành số ngày, ông sửa ngay; chỗ ấy không trở thành một kỳ mở nước dài hơn chỉ vì nó hợp điều người sửa đang tìm.
Hào đặt ngón lên nét nước cũ chạy qua kho nhà mình. Anh ta không hỏi tổ sẽ phá kho khi nào, hỏi nếu muốn trả tới vạch ấy thì lúa trong bao đi đâu. Trầm nhìn, nhận chòi mình cũng phải chuyển khỏi một phần được vẽ đang có nước. Cả hai cùng thấy trên trang một mặt đầm rộng hơn, ngoài cửa là những vật và người đã sống trong lúc mặt ấy thay đổi.
Họ trở lại cọc với bản chép, có Dư đi tới nơi chân dễ đứng. Mặt sau còn dấu ngang thấp, bị bùn bồi phủ gần hết. Ông chỉ được chỗ, An cùng Hào nhấc từng lớp đất rời ở ngoài rễ để thấy, ghi rồi trả lại. Vân giữ dụng cụ, không dùng con dao mượn để cạo gỗ cho ký hiệu rõ như mới, vì nét mòn cũng là phần cần đo trước khi sửa cách đọc.
Miên lấy mốc từ gốc cây chắc để truyền tới ruộng. Một sợi dây đi tới chỗ hôm trước Hào nhờ giữ bánh xe, hạ theo dấu ước của nước cũ sau khi trừ phần nghiêng cọc đã biết. Chỉ là một khoảng so có sai số, đủ cho người đứng cạnh thấy nếu mở theo cả vạch cũ, nền kho thấp hơn phần nước ấy. Hào đứng giữa dây và cửa, lấy tay đánh nơi bao lúa đang xếp.
Giữa khoảng dài, dây trĩu xuống làm Vân tưởng mặt nước so lại thấp thêm. Miên dừng cậu trước lúc khắc dấu, chia thành những khoảng ngắn có chân giữ, dùng thước cân mang theo kiểm từng lần chuyển. An đứng phía đối đọc lại, nhờ Hào giữ đầu khỏi gió. Các đoạn đã chuyển được đánh riêng trên bản, không nối một dây mềm từ cọc xa tới cửa kho rồi cho nó mang vẻ chắc chắn của một mặt nước phẳng.
An mang dây đi tiếp theo phần đường được cho, tới một căn nhà có thềm thấp sát góc ruộng. Bà Khê đang tách cói để đan, sợi ướt ngâm trong một chum lớn cạnh thềm. Bà hỏi họ kéo dây qua sân làm gì. Hào giải thích đang so dấu cũ, chưa nhận mở nước. An đứng ngoài cổng, xin bà nhìn mức từ đó, không bước vào nhà để chứng một nguy cơ trước khi chủ nhà biết.
Dấu so tới quá chân thềm, còn bậc lên gian trong chỉ cao hơn một ít. Bà không nói chuyển được nếu có người trả tiền rồi thôi, chỉ chiếc chum cói ngâm dở, giường của chị gái lớn tuổi và những vật chưa từng đi qua lối hẹp cùng lúc. Bà muốn nếu ai bàn chuyện mở phải tới đúng căn nhà, nhìn đủ đường mang người với đồ ra, chứ đừng vẽ tên mình thành một chấm cần dời.
Một đứa cháu mang rổ tới, bà ngừng nói để vớt phần cói đã đủ mềm, giữ riêng phần ngâm chưa tới. An đỡ chiếc rổ ở phía bà chỉ, nước nặng kéo xuống tới cổ tay. Nếu đổ cả chum rồi ngâm lại ngày khác, một phần cói sẽ không còn dùng làm những mắt đan khách đang đợi. Bà nhờ họ tính giờ cần báo trước cùng chỗ đặt sàn, không lấy một số vò rỗng thay lượng cói đang sống trong công mỗi ngày. Anh đặt rổ lên giá, hỏi lúc nào bà có thể ngồi nói đủ cùng chị mình, ghi lời hẹn ngay trên tờ nhà còn chưa nhận dời.
An nhận ghi riêng nhà, giờ tới xem khi bà nhận và người cần cùng quyết. Miên giữ phần so cọc cũ trong dải, không biến dây trên sân thành dự báo chắc mưa tới đâu. Họ chưa đo được nhịp trong đất, chưa thử lượng mở, thậm chí còn chưa nhận mọi chân nhà nằm cao bằng nhau. Bà Khê hạ sợi cói khỏi đường dây, mời họ đặt một đầu lên cọc ngoài vườn cho khỏi chắn người đi.
Trầm ra bờ xem cọc cùng Dư lần cuối, hỏi dấu chờ tràn có nghĩa lúc ấy cũng có khoảng nước phải nhận ngoài lau chứ không chỉ giữ lúa. Ông đọc lại dòng, nhận đúng chuyện trang đang tả. Chị nhìn Hào, không đưa câu ấy thành lời bắt anh ta trả ruộng. Hào chỉ một góc đất hôm nay kém lúa, nói chỗ ấy có thể tới xem trước, còn lấy làm đường thật phải hỏi người cùng giữ.
Trên đường về, An dừng ngoài một mũi bùn thấp, giấy Miên vừa đo vẫn nhận lực giữ trong tầng dưới. Anh nghe bằng gốm sau khi đã đối, nhịp kéo dài nhưng mặt trên nứt khô. Nếu cứ đưa nước đều vào cho tới lúc mặt ấy nhìn ướt, phần dưới có thể đã nhận một thứ khác lâu hơn. Anh chưa biết câu trả lời, đánh nơi để sáng sau lấy lớp theo giờ, không nối một lối mới từ hứng khởi có sổ cũ trong tay.
Miên hỏi anh muốn dùng bản nào để tính ngày mai. Anh đặt bản hiện tại lên trước, bản cũ cạnh bên với ngày đã chép, xin giữ cả hai câu hỏi: nước từng đi đâu, và bây giờ những ai nằm trên đường ấy. Cô thêm phần sức chứa và nhịp nhả chưa có số, để ý muốn mở khỏi cạn bãi không lấp mất việc còn phải đo. Vân đứng bên chép tên bà Khê riêng khỏi tên chủ ruộng quanh, vì người ở nhà và người giữ đất chưa chắc cùng một người.
Hào nhận dẫn sáng mai tới góc lúa kém sau khi người cùng giữ tới. Anh ta cần nhóm giữ đúng phần khảo sát, không đưa thước xuống sâu sát chân kè khi chưa có mình ở đó. An nhận, nhờ anh mang cách người trong vẫn đọc mực sau mưa, vì chỗ đất mình nghe giữ chưa cho biết khi nào nước thật sẽ lên qua bờ. Trầm nhận giờ ngoài trước ca cắt, không phải bỏ mẻ cá thêm một buổi để chờ họ đọc sổ.
Vân xếp bản nháp vào túi, hỏi An có thất vọng vì tìm được dấu cũ mà chưa mở được gì. Anh đáp có một chút, lúc nhìn đúng ba vạch đã muốn đem nó làm một phần đường. Cậu nhìn thước còn bọc, nói mình tưởng người giỏi đọc được sổ là tới lúc làm nhanh. Anh bảo hôm nay đọc thêm được vì sao phải chậm ở đúng một căn nhà, cũng là thứ cần mang vào phép tính, nhưng nói rồi vẫn thấy vai mỏi vì ý định phải viết lại.
Tới chòi, Trầm mở mẻ cá phơi, An giúp đưa phần đủ khô ra túi trước khi gió ẩm về. Phần chưa khô được giữ gần bếp, không trộn để giỏ bán mai đầy hơn. Chị hỏi ngày mai cần mấy lọ đất, anh cùng Miên tính số ít đủ lấy ở các lớp được nhận, chừa nguyên một phần chưa thử. Không có lý do đem cả một gánh bùn về chỉ vì sổ đã khiến họ muốn biết nhiều hơn.
Đêm, bản chép cọc đặt dưới tấm gỗ phẳng, cách nồi cơm và phần lưới đang vá. An nhìn những nét xiên trước khi tắt đèn, tưởng tượng mặt nước từng tới rồi nhìn lại tên Khê mới ghi ở mép bản hiện tại. Cọc cũ còn đứng ngoài ruộng, đã nói được một điều có ích mà không ra lệnh cho người đang sống. Sáng sau họ sẽ tới mũi bùn bằng những lọ rỗng, xem nó giữ một lượt nước dài tới đâu, trước khi nói nên mở một lượt dài bao nhiêu.
Chương 40: Bùn giữ một hơi
Quyển III — Mùa bùn thức dậy