Chương 24: Bản đo lúc nửa đêm
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 24 / 86

Chương 24: Bản đo lúc nửa đêm

Khoảng 12 phút đọc

Quyển II — Dưới đồng muối

Miên giữ ba tờ trước đèn, xoay đi xoay lại tới mức An nhìn từ cửa cũng thấy mực đã khô. Cùng một mẫu nước nguồn, tờ thứ nhất nhận một vệt liền, tờ thứ hai tách đôi, tờ thứ ba chỉ sẫm ở mép. Ngoài giếng, người ta có thể gọi ba vệt ấy là ba lúc dòng thay; trên bàn, mẫu vừa lấy từ cùng một bình chưa được thêm gì.

An đặt phần gốm mình đã nhận trả vào hộp, chưa tới hỏi cô ngay. Từ hôm trước, câu mình có thể giúp được gì rất dễ trở thành lối chen tay vào một việc người khác đang giữ. Anh chờ cô ngẩng đầu, hỏi có cần người chép riêng những thứ đã dùng ở từng lượt không. Miên đẩy sổ sang, giọng ngắn hơn thường lệ: nếu anh ghi đúng thứ cô nói, không sửa theo điều nghĩ đáng lẽ phải giống.

Cô đọc tên giấy, giờ chấm, bình nước, vị trí que. An chép, nhận ra giữa các tờ không chỉ khác giờ. Một tờ ở ngăn trên hộp, một tờ vừa cắt từ cuộn sâu, tờ kia đã được ép bằng vải hong ngoài thuyền. Anh khoanh những điều chưa đối, không gọi ngay đó là lỗi giữ đồ. Cô nói mình đã giữ giấy khô, câu cuối bật ra mạnh hơn câu trước.

— Khô không phải một mẻ — An nói, rồi chỉ vật vừa ghi. — Tôi cũng chưa biết nó khác ở đâu.

Miên cầm tờ ép, không đáp. Bác Kha tới hẹn lượt đêm, mang que vòng vải và một người cùng ca để nhìn mẫu. Cô nói chưa dùng giấy này tính lượng ngoài giếng, muốn giữ lượt để đối trong chỗ khô nhà lò, không mở thử bờ. Bác hỏi hai người đứng coi giấy có giúp giếng bớt mặn hơn đứng coi nước không. Cô đưa cùng một bình và ba dấu khác, để bác tự thấy vì sao hôm nay cần bắt đầu ở bàn.


Thoa dọn một bàn chưa từng đặt gốm lấy từ bãi, lau bằng tấm vải dùng riêng trong kho đất. Miên không nhận nó là sạch để đối chỉ vì người nhà lò nói thế, xin giữ một miếng chưa lau để thử riêng. Thoa đưa đủ, không giận. Nghiêu đứng ngoài cửa hỏi có cần nhiệt lò hong nhanh, cô lắc vì thêm cách hong lại thêm một thứ khác nhau khi chưa tìm được dấu ban đầu.

Họ lấy một ít giấy còn cuộn kín ở đáy hộp, dưới miếng vải bà Từ đã viền riêng, và một phần ngăn trên. Cùng mực, cùng que đã rửa bằng nước nguồn giữ trong bình không ra bãi. Miên nhờ Vân cắt dấu ở góc sau khi chia, không để cô biết ngay phần nào lấy ở đâu lúc chấm. Cậu đánh bằng nét ở mặt sau, đặt vào hai rãnh riêng, An ghi thứ tự đọc được.

Lượt đầu cả hai đều gần giống. Miên thở ra, rồi chưa kịp mừng, tờ ở rãnh trái tách một khe nhạt. Bác Kha nhìn bình vẫn đứng nguyên, hỏi nếu giếng không đổi thì dấu này tự từ đâu ra. Cô đổi hai rãnh, dùng giấy khác mỗi phần. Khe nhạt đi cùng một loại giấy chứ không theo vị trí trên bàn. Chưa đủ biết do muối, đã đủ biết không thể lấy hai tờ ấy so lượng như từng làm trên thung.

An nhìn mảnh vải ép phẳng giấy. Nó không ẩm, mép có ít cứng rất khó thấy. Anh nhớ dây buộc hàng trắng trên thuyền, hỏi miếng này đã được hong ở mũi chưa. Miên đáp có, cô bọc hộp sau đó. Vân lấy bản ghi đi đường, đúng chiều giấy bị ướt cậu đã gấp lại, còn miếng lót thì trải hong để tối khỏi làm ẩm cuộn mới.

Miên đặt một mảnh giấy chưa chạm lên miếng vải, một mảnh cùng cuộn lên tấm gỗ đã đối. Không ai chà muối vào mẫu để làm nó ra kết quả mong. Họ chỉ lặp cách ép đã từng dùng, chờ cùng quãng rồi chấm. Dấu tách xuất hiện ở phần đi qua vải, phần còn lại giữ liền lâu hơn. Cô sờ mép vải, nhìn đầu tay, không có lớp trắng rõ để ai đó đã nhìn là phải biết.

Thoa mang giấy của kho lò tới thử thêm, nói nó hút khác giấy trên thung nên không nhận làm mẫu đối thay ngay. Miên dùng nó để nhìn chuyển vệt, không tính lượng. Ở đó dấu cũng đổi sau ép vải, chưa trùng cả hình nhưng cùng khác so với phần để khô riêng. Nghiêu xin giữ miếng vải trong hộp mẫu, cô nhận, lấy phần còn lại gói riêng để không vô tình lót một cuộn khác lúc dọn bàn.


Qua nửa đêm, hai người giữ giếng đã nhìn đủ một chuỗi mẫu mà không ai động chốt ngoài bờ. Bác Kha đi qua cửa xem vị trí nước, người cùng ca giữ que có vòng màu khác để không lẫn mốc. Miên đo một mẫu nước giếng, một mẫu nguồn, lần này chỉ dùng giấy kín và đầu que riêng đã được đánh dấu. An ngồi đầu bàn, có thể thấy tay cô và vải báo mốc cùng lúc, nghe lại khi đèn ngoài cửa lẫn tiếng gió.

Thoa đưa về mẫu mới lấy tại giếng đầu bến, đánh giờ ngay lúc kéo lên. Người cùng ca Kha đã nhận đi cùng lấy ở mỗi lượt, không gọi nước nằm trong bình cả tối là thứ đang có ngoài đất lúc này. An ra cửa nhận bình, đối miếng vải buộc đầu với giờ người mang đọc, đặt từng bình vào một ô riêng. Một bình vẫn giữ kín từ đầu buổi để nhìn xem tự nó có đổi sau khi chờ hay không. Miên chưa biết ô nào là bình vừa mang, Vân giữ tên sau lưng tấm chắn.

Lượt đầu cô đọc hai mẫu gần nhau, lượt sau một tờ hiện khe sâu hơn. An đứng nhìn qua vai, muốn nói đúng lúc ngoài giếng vừa đổi, nhưng Vân đưa bàn tay chờ. Cậu còn phải mở nhãn để đối trước khi ai đó kể giờ cho khớp với điều vừa thấy. Miên đặt bút, tự ghi xong mô tả rồi đẩy sang. Khi nhãn mở, phần nước mới trong giờ đổi khác phần kéo đầu buổi; bình giữ lại có biến nhẹ theo lúc chờ nhưng không giống mức mới lấy. Không tờ nào được phép đại diện tất cả chỉ vì đều ghi chữ giếng.

Bác Kha đặt que vòng vải cạnh các giờ, chỉ những lượt đã tới được đúng chỗ lấy, giữ trống một lượt người nhà phải dừng dời gàu cho người múc nước. Cô không lấp giờ ấy bằng giá trị giữa hai tờ. Nghiêu nhìn khoảng trống, lần đầu không giục có thêm một con số trước khi khách hỏi. Ông đưa bát chặn giấy, cùng giữ mép để gió qua cửa không đổi vị trí những mẫu họ mất cả tối mới đặt tách ra.

Dấu nguồn đứng khá đều. Dấu nước giếng mới lấy trong kỳ đổi vẫn tách, nhưng khe không giống những tờ ngăn trên ban chiều. Cô lặp lại đúng thứ tự, nhờ bác Kha đọc mốc vòng vải mà không nhìn giấy trước. Đất ngoài đổi trước mặt nước như họ đã thấy; giấy chưa nói hết lượng, nhưng giờ không tự biến một bình đứng yên thành ba câu chuyện khác.

Vân đặt các tờ hỏng cạnh nhau, hỏi có phải từ nay tất cả giấy cũ bỏ hết không. Miên bảo những tờ đã chạm điều kiện chưa đối chỉ dùng giữ thông tin nơi/giờ, không lấy độ sẫm tính lượng. Phần đã cuộn riêng cần được thử chứ không tự được gọi đúng vì ai cũng muốn nó còn đúng. Cậu đánh những tờ ấy bằng dấu khác, không quăng vào lửa cho đỡ phải thấy phần công đã mất.

An hỏi các tờ thư Nghiêu gửi có thể cũng khác như vậy không. Ông lấy bản giữ ở lò ra, hai tờ cùng ngày nhưng hong khác chỗ. Miên so, chưa dùng chúng làm bằng chứng có một biến động kéo dài qua mấy tháng. Nghiêu nhìn mảnh giấy từng khiến mình quyết mời người tới, hỏi vậy cả chuyến này có từ một tờ sai. Cô chỉ mẫu gốm giữ ánh ngoài giếng và mạch quay đầu đã được nhiều người thấy: lý do tới có thật, thứ họ phải bỏ là phần kết luận chưa đủ điều kiện.

Nghiêu ngồi xuống, tự gạch câu mực nhạt nên dòng yếu trong tờ mình chép từ thư. An nhìn cột giờ do các tay khác nhau ghi, thấy phần việc Miên làm không giống một người viết cho đẹp rồi sai: cô đang tháo những gì người khác có thể đem làm quyết định từ chữ của mình. Anh lấy hộp giấy sâu, đưa cô đủ chỗ cất phần được giữ riêng, không nói một câu mọi người ai cũng sai để làm điều đang sửa nhẹ đi.

Gần cuối lượt, Miên đặt bút xuống vì tay mỏi. Cô nhấc que cho lượt cuối, rồi nhìn bác Kha đã đổi chân đứng ba lượt. Cô chọn niêm các phần mẫu, nhận thử lượt sau vào giờ khác. An đưa bản mình chép để cô đọc lại những chữ sẽ giao, giữ câu còn chờ hiệu chuẩn ở ngay dưới kết quả đầu, không giấu cuối tờ. Hai người giữ giếng cầm một bản về, biết sáng mai đừng mở theo những tờ có dấu cũ.


Buổi sáng, An theo Miên và bác Kha tới chỗ đầu tiên từng nhận tờ suy ra giờ thấp. Cô nói chỉ cần đổi bản rõ và nhờ người nhận chỉ lại mức hiểu được, không cần mời một cuộc họp thật lớn. Một người bực vì đã giữ cả buổi theo giờ cô hỏi. Cô nhận phần công họ đã mất để đối, ghi trả theo thỏa thuận khảo sát, không dùng việc chưa có tai nạn làm lời bảo chưa gây thiệt gì. An ở lại tới lúc người ấy đọc đúng dấu mới, rồi về lò trước; Miên và bác Kha còn chỗ thứ hai phải tới.

An ở lò chuẩn bị hộp nhận giấy mới. Cuộn kín còn đủ lượt nhỏ, không đủ thử cả đường và số giếng mọi nhà muốn. Người chở hàng báo giấy/mực ở bến ngoài đã tới, phải qua lạch nhận trước khi thuyền đổi chuyến. Nghiêu có chiếc xuồng thường chở gốm, nhưng hôm ấy còn hai kiện khách nhận. Không thể thêm người, hộp mẫu và cả phần hàng như thể xuồng có thêm lòng chỉ vì thứ nào cũng cần.

Vân đo bằng chỗ trống thật, xếp các hộp rỗng thử trên sân. Cậu đề nghị một người đi thay vì cả ba, còn cần người biết giữ giấy khỏi hơi mặn. An nói mình nhận đi cùng Thoa, Vân ở lại đối danh sách và nhận giờ người giữ giếng tới. Cậu hỏi nếu đến bến thiếu một kiện thì có nhận hết những kiện khác trước không. Thoa lấy dây, chỉ thứ sẽ ở dưới đáy, thứ phải luôn đặt cao, bảo còn phải xem gió lúc ra, không phải vẽ vừa là chở vừa.

Miên về, đặt miếng vải nhiễm trong hộp thẻ riêng. Cô đưa An tờ nhận có tên mẻ và phần cần kiểm ngay tại bến, không yêu cầu anh tin nhìn thấy cuộn khô là đủ. Anh đọc lại từng mục, hỏi chỗ chưa rõ trước khi gấp. Sau chuyện vòng gốm hôm trước, được nhận phần đi lấy mẫu không làm quyền chạm những mẫu chưa được đối tự trở về tay anh.

Trước lúc đóng hộp, cô giữ anh lại một chút, nói đã thấy anh ghi nguyên cả lúc cô giận. An đáp cô đã bảo ghi đúng điều cô nói. Miên cười mệt, xin bản thô ấy để nhớ phần mình muốn bỏ qua đầu buổi. Anh giao, không thêm lời khuyên. Tờ thô có nét chữ hơi nghiêng do tay sẹo, vẫn đủ rõ cho cô tự đọc khi tỉnh hơn.

Ngoài bến, chiếc xuồng được kéo lên sửa một quai buộc. An và Thoa mang hộp rỗng tới, thử đặt cạnh hai kiện gốm. Mặt lạch lấp lánh, dưới đó đường lực sẽ đổi trước khi người chỉ nhìn nước biết. Anh đặt tay lên thanh mạn, chờ Thoa cho biết giờ nhận chuyến mai. Giấy mới chưa làm giếng ngọt, nhưng lần thử tiếp sẽ phải bắt đầu trên thứ không âm thầm mang theo dấu của chuyến cũ.

Trang sách tiếp theo

Chương 25: Chiếc xuồng không đủ chỗ

Quyển II — Dưới đồng muối

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!