Chương 30: Lằn nước trên cọc
Quyển II — Dưới đồng muối
Người cắt lau tới trước họ, đã bó được hai bó ngắn đặt trên phần đất cứng. Chị mang áo vá ở vai, dao cong nằm trong vỏ tre bên chân, một sợi cói giữ tóc khỏi rơi xuống mắt. Bác Kha gọi chị Trầm, nhờ xem những thân khô ở mép bồn. Chị ngẩng lên nhìn ba người mang cọc, hỏi trước ai giữ lối để lúc nhấc bó lau mình còn quay về được. An đặt các cọc sang phía khác, chừa nguyên đường chân chị đã đi.
Trầm chỉ một hàng thân gãy thấp hơn các thân còn xanh. Chị nhớ chỗ ấy trước đủ mềm để cắt làm phên, nay phần gốc giòn, bẻ ra có lõi tối. An hỏi có phải mặn giết cây. Chị đưa anh một thân khô nằm ở bờ cao, nhờ so. Thân ấy cháy đen một bên, lõi còn màu khác; có người đốt cỏ sau mùa trước. Chị biết hai chỗ chết không cùng cách, chưa nhận nói chúng đều bởi một dòng dưới đất.
Miên xin lấy một gốc đã gãy để xem, chị bảo người giữ phần bồn chưa tới, chỉ được nhấc phần rời nằm trên mặt. An đặt cuốc nhỏ xuống, đưa que chạm ở phía ngoài. Đất quanh gốc ẩm hơn bờ dù mặt nước đã thấp. Anh nhận rung giữ trong thước qua một lượt đối, thấy khác đủ để ghi, không biết rễ đang dẫn hay chỉ nằm trong phần đất ấy. Trầm nhìn lúc anh đặt lại, kéo bó lau che một mép bùn hở để không ai bước vào lỗ còn mềm.
Chị sống phía Cửa Lau, tới Cồn Sậy cắt phần lau được nhận theo vụ, về bằng xuồng khi nước hợp.
Nghe họ muốn biết bồn nhả lúc nào, chị đề nghị xem cả đầu có cây còn sống, đừng chỉ đi theo hàng chết. An nhìn đường ngắn trên bản từ bồn tới chỗ dự tính trả, rồi thu thước lại. Con đường hôm nay dài thêm một vòng quanh gốc lau xanh, trước khi có thể gọi bất cứ đoạn nào là khoảng đất bỏ không.
Cọc đầu không xuống được. An đẩy bằng vai, mũi tre trượt sang một bên rồi bật lên bùn khô. Bác Kha gõ chân, phát hiện bên dưới là mép đá cũ phủ đất. Họ không đóng mạnh hơn làm dấu ngay giữa một nền chưa biết giữ gì. Trầm nhấc cọc đi vài bước, chỉ chỗ đất không lún từ những mùa chị gánh lau. Miên cần nền đứng yên, nhưng cũng cần số đo còn nối được với điểm cũ; cô căng một sợi dây ngang từ hòn đá nổi tới đó.
An dựng cọc mới trên nền đã kiểm, khắc mặt dễ chạm bằng ngón tay. Vân đến sau ca ghi ở lò, mang bản sao những mốc mẹ Thực giữ. Cậu chuyển dấu ngang theo sợi dây, lần đầu cọc nghiêng làm đường khắc lệch. Miên đợi cậu dọi lại bằng viên đá buộc, hai người cùng hạ dây tới đúng mặt. Trầm đứng giữ đầu ngoài dưới gió, không phải đứng đọc giấy mới thành một phần của phép đo.
Họ dựng ba điểm: một ở mặt lạch nhìn thấy nước, một phía bồn, một ở mép nhánh cũ trước chỗ rẽ về giếng. Bác Kha yêu cầu có lối quay giữa hai điểm không phải lội, vì người giữ ca ban đêm sẽ mang đèn. An định nối thẳng bằng dây dẫn đánh dấu; Trầm chỉ hàng cỏ có tổ thấp. Họ đi vòng ngoài, kéo lối xa khỏi chỗ chim đang về, trả lại sợi dây đã suýt buộc qua cả lối của chúng.
Đến lúc cọc đứng, mặt lạch đã bắt đầu dâng nhưng dấu trong bồn còn hạ. Miên đặt que nhận từng nơi theo đúng giờ, An chỉ theo một lượt để đối nhịp sâu, không chạy giữa ba nơi nghe bằng tai.
Một tiếng chân vỗ bùn phía trái làm anh xoay nhầm về hàng lau. Vân ở trước mặt giơ vải, đợi anh nhìn rõ rồi mới chỉ người từ bờ đang tới. Người giữ bồn mang cơm cho Trầm, chẳng có hiểm họa nào, nhưng An vẫn cần một lúc mới thả được vai.
Người ấy nhận cho đặt cọc ở mép, chưa cho đào đáy. Bà nghe Trầm kể dấu cây chết, tự chỉ thêm một chỗ ngày trước vẫn gác rổ. Giờ chân rổ đã mất dưới đất lở, không thể lấy nó làm mốc như bác Kha nhớ. Miên ghi lại lần thay nền, giữ cọc mới cao khỏi khoảng đó. Một dấu nước chỉ có ý nghĩa nếu cái chân mang dấu chưa đi theo nước mà họ không hay.
Trầm còn một chuyến xuồng phải về, không nhận giữ cả kỳ tại Cồn Sậy. Chị chỉ hai giờ mình có thể đọc giúp trong mấy ngày cắt còn lại, những giờ khác bác Kha và người giữ bồn tự chia. Miên đem bảng giờ tới từng người, thử đi hết một vòng bằng đúng lối ban đêm sẽ dùng. Tới cọc thứ ba, đèn bị lau che; Vân nâng nó lên thì ánh sáng hắt ngược vào mắt người đọc. Họ hạ đèn sang một chân đỡ ngoài cọc, đặt dấu khắc về phía có thể chạm.
Đêm đầu An giữ lượt trước, đem gói cơm nắm và một chai nước ngọt. Đất yên nhưng mặt bồn không yên cùng lúc mặt lạch. Anh thấy bóng thân lau đi nghiêng trên nước, phải cúi sờ rãnh mới biết mực thật. Một lần muốn ghi nước đang xuống, anh kiểm que sâu, nhận đầu dưới đã chuyển ngược trong khi mép nước còn thấp. Anh ghi hai dòng giờ tách nhau, mang tờ về cho Miên xem vào lượt đổi ca thay vì viết một mũi tên chung.
Cô đọc, nhờ anh quay lại cùng mình một điểm. Ở đó, phần giấy cuối nhận thêm dấu từ bùn chạm mép áo. An đã đặt tờ lên gối lúc mở chai, quên tấm lót sạch. Cô lấy mẫu mới trước mắt anh, giữ lượt cũ như phần bị nhiễm, không xóa nguyên đêm quan sát. Mực mới ở cùng độ sâu xác nhận chiều chuyển, còn lượng không so được với vệt trên gối. Anh thay vải sạch cho đầu gối, buộc tấm lót vào chân đèn để lần sau tay đang bận vẫn tìm được.
Mấy lượt tiếp kéo qua hai ngày. Lúc ở ca nghỉ, An ngủ thật ở lò, chỉ tới điểm người nhận ca đã đánh. Anh nghe kể có một ô giờ thiếu vì người giữ bồn phải đưa con đi bến; họ để trống. Sau lượt ấy, chị Trầm đưa tờ có hai dấu mình nhận khi cắt, giúp nối được một phần mà không giả thành đủ cả kỳ. Chị còn mang một nhánh lau xanh đã gãy rời, đặt cạnh thân giòn, yêu cầu xem lại chỗ cây sống vẫn nằm trong bùn giữ lực lâu.
Đến lượt kiểm chân, Vân căng lại dây từ hòn đá nổi, nhận ra đỉnh cọc phía nhánh cũ đã lệch. Cậu gọi An tới xem trước khi kéo thẳng. Đất bên ngoài có một vệt lõm do giỏ gánh tựa vào, còn chân dưới chưa biết dịch bao nhiêu. Họ giữ cả dấu lệch, đo lại cao độ từng rãnh rồi mới kê một chân ngoài cho cọc đứng. Những số từ lượt cuối không được ghép liền như thể nó chưa từng nghiêng. An phải mở gói giấy mới, ghi riêng khoảng ấy và nhận thêm một ca cùng Kha để đối lại khi nhịp trở về. Anh đã hẹn sửa giá với Nghiêu tối đó, gửi người về báo lùi, không bỏ một chỗ đo chỉ vì trên lịch mình nó đã xong.
Chuyến trở lại có Trầm đi qua với bó lau nhẹ. Chị nhìn chân kê, xin họ bọc mặt gỗ lộ cạnh đường gánh để móc giỏ không mắc. An lấy một mảnh tre cong che cạnh, chừa rãnh kiểm bên trong. Chị đi thử với giỏ của mình, vòng quai vượt qua được, người đọc cọc vẫn cúi sờ tới dấu. Vân vẽ thêm hình giỏ cạnh bản điểm đặt, nét rất nhỏ khiến An phải ghé gần đèn mới thấy. Cậu bảo lần sau nhìn vào sẽ nhớ nơi này còn có lưng người đi qua. An đưa cậu miếng than ngắn vừa tay hơn, giữ mép giấy để cậu ghi nốt giờ cọc đã được đối lại.
Ở chỗ xanh, nền cao hơn chút, khe ra lạch còn thông qua lớp rễ thưa. Thước và giấy cùng nhận nhả sớm hơn phần bồn kín ở lượt họ có mặt. Trầm không reo là đã tìm được đường sửa. Chị dùng cán dao chỉ khe hẹp, kể tới mùa cá lên nơi ấy có lưới người khác giữ. An cúi nhìn phần nước vừa đủ một bàn tay, hiểu nét đầu trả mình sẽ vẽ còn phải đi qua một lối đang có người và sinh vật dùng, không chỉ qua mực trên giấy.
Đủ lượt từ lần mặt lạch đứng cao tới lúc trở lại cùng dấu, họ trải bản ghi trong sân lò. Một chỗ trống còn nguyên, phần dưới đổi trước mặt nước ở cả các lượt đã đối được. Giữa cọc bồn và cọc nhánh cũ, cùng một chiều tới giếng xuất hiện sau khi bồn bắt đầu nhả.
Miên nối đoạn trên bản bằng nét rõ hơn, vẫn để phần sâu chưa đào là nét đứt. Họ đã biết giờ và hướng cần chặn, chưa biết mọi khúc dưới đất nằm chỗ nào.
Thực đặt thanh cào xuống mép sân, hỏi nếu ngừng kênh cũ thì phần bồn sẽ đi đâu. An đem hai đoạn ngắn ra, đặt cạnh bản, chỉ lối giảm tải hẹp cần thử trước. Hạ cả chốt như lần trước sẽ căng bờ ngoài; nếu bể nhận không còn chỗ, họ phải giữ vị trí cũ. Anh tự đọc lại lời ấy cho người giữ bồn, rồi nhờ bà chỉ phần đất mình được phép xem quanh khe lau. Cọc đã cho họ đủ lý do hỏi, chưa cho thêm quyền đào.
Nhà trồng rau từng phản đối mở chốt bảy năm trước tới với một rổ lá non. Người ấy trải rổ xuống đất, cho thấy lá gần bờ đã đổi màu ở một góc, hỏi thử có kéo nốt dải rau không. An chưa biết. Miên đề nghị thêm một điểm nhận sát rễ trước lượt nhỏ, có người của nhà ấy giữ. Họ lấy rổ khỏi chỗ đặt gốm, bàn lại mức thử để nếu phải dừng thì đất không nhận quá phần vừa đo được.
Nghiêu tính các đoạn tháo, công kê, và khoản công giữ cọc đã bỏ ra, rồi dừng ở phần bồi vụ của Thực cùng hai nhà chung bờ. Người góp tiền giếng đầu hỏi sao sửa một giếng lại phải trả một vụ muối. Thực cầm đầu cào, không đáp ngay. An chỉ chỗ cũ trên bản: nếu giữ nguồn nuôi ô trong lúc nó kéo bùn mặn về nhánh giếng, đường mới sẽ phải làm việc mãi với đầu vào sai. Muốn ngừng, họ phải trả phần thiệt mà quyết định ấy gây ra. Anh để người góp nhìn số còn thiếu, không hạ mức bằng lời kêu gọi chung.
Họ chưa chốt đào tối đó. Bà Mẫn nhận xem phần vật tư có thể đổi để bù vụ đã bán, còn Nghiêu chỉ nhận phần lò đủ trả, không đứng thay cả bãi. Người giữ bồn sẽ gọi hai nhà dùng khe ra lạch. An hẹn sáng mai cùng họ xem một lần, cất các đoạn ngắn trên giá, để cọc ngoài bãi tiếp tục có người đọc trong lúc tiền và đất chưa được nhận.
Trầm buộc bó lau cuối trước giờ xuồng, nhờ An giữ một đầu dây. Anh kéo quá căng, thân ở mép gãy, chị nới lại rồi đưa anh cắt phần ấy thành đệm ngắn. Chị cười bảo giữ lau đứng cả mùa cũng chưa có nghĩa buộc được một bó đẹp. An đem đệm kê dưới giá gốm thay vì vứt đi. Khi chị xuống bến, anh ở lại trả dao, hẹn nếu chuyến sau trùng giờ thì cùng ra xem cọc, không nhờ chị hoãn nước về Cửa Lau để ở đây chờ họ quyết.
Chương 31: Một kênh phải lấp
Quyển II — Dưới đồng muối