Chương 31: Một kênh phải lấp
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 31 / 86

Chương 31: Một kênh phải lấp

Khoảng 12 phút đọc

Quyển II — Dưới đồng muối

Xe vật tư dừng ngoài bờ, không xuống tới ô muối. Trên xe có lúa khô, cói lót và hai cuộn vải chưa cắt, phần các nhà chọn sửa giếng đầu đã cùng mua thay vì giữ đủ tiền thuê chở nước qua cả mùa. Nghiêu nhận thêm phần thẻ gốm lò trả được, để riêng khỏi khoản chậm kiện hàng. Bà Mẫn tới đối phần sẽ nhận thay muối đã bán trước, không nhận cả xe chỉ vì tên mình nằm trong sổ nợ nhà Thực.

Hai nhà chung bờ mang dụng cụ cân. Một nhà nhận lúa cho những ngày phải ngừng ô, nhà kia muốn vật liệu sửa nền phơi và công làm có thời hạn. Thực cần một phần lúa ở lại cho mẹ, phần giao bà Mẫn được đếm trước mắt. Anh ta tự lấy gánh mang về sân, yêu cầu cân ở đó thêm lần nữa vì đòn gánh nhà mình đã thay một quai. An giúp kê mặt cân, chờ từng gánh rời xe mới mở bản công trình.

Bà mẹ mở một bao, xoa hạt trong lòng tay, chỉ phần đáy có mùi khác. Người giao nói cùng kho, mặt bao đều khô. Bà lấy một gáo dưới lên đặt cạnh gáo trên, để mọi người ngửi chứ không chỉ nghe mình. An giữ cửa xe trong lúc Thoa nhờ người mang bao ấy về đổi, tờ nhận để trống đúng dòng. Họ đợi tới khi bao khác được mở từ đáy, cân lại rồi mới tính đủ phần để làm. Bà Mẫn mang bao mình tới cùng xem, không lấy phần tốt đã chọn của nhà Thực để chắp vào lượng còn thiếu. Buổi thử chốt lùi qua một lượt nước; Miên tới cọc kiểm lại giờ, không đem giờ đã hẹn sáng sớm dùng cho mặt nước bây giờ.

Phần góp chỉ đủ làm giếng thứ nhất và giữ ca ngoài bờ, chưa đủ hẹn hai giếng còn lại. Người từ giếng xa đứng nhìn xe nhẹ dần, hỏi mình đóng tiền ít thì phải chờ mãi sao. Miên trải bản mức dùng hẹp, nhận ghi phần khảo sát còn thiếu bên họ để không bị xóa khỏi lần kế. An không đưa một đoạn ngắn cho họ như thể cầm được gốm là có đường ngọt. Họ giữ phần tiền chưa ký làm, nhận bản giờ ca muốn tới xem, đi khỏi xe mà chưa vui.

Mẹ Thực mở túi chìa, lấy đúng chiếc từng dùng ngày cứu đậu bảy năm trước. Bà đặt nó lên chỗ bản có đường kênh cũ, hỏi An còn muốn hạ cả khi mặt giếng chưa ngọt không. Anh đáp nếu lượt nhỏ cho thấy bờ nhận được như đã đo, họ sẽ ngừng đường sai ấy trước, còn giếng phải trả phần cũ trong bùn qua nhiều lượt. Bà nhấc chìa lên, không trao cho anh, đi đầu tới cửa chốt.


Hai nhà dùng khe lau đứng đợi ở đầu ngoài, một người mang theo tấm lưới chưa hạ. Họ cho nhóm mở đoạn ngắn ở phần đất cao, chừa nguyên lối lưới và chân lau giữ bờ. An nhìn chỗ trên giấy tưởng vừa hai đoạn, tới nơi phải xoay chân kê để không đè lên rễ. Thoa giữ mẫu gỗ làm dấu chiều dài, cho người góp thấy khoảng còn hở phải nối bằng đường đã đo ngoài mặt, không tự chôn thêm một vật chưa ai nhìn.

Họ đặt bệ trên đất chắc sau khi cọc đã được đối lại. Vân giữ đầu ngoài, An buộc đường trả riêng khỏi chân đoạn dẫn, hai người lò kê gốm bằng đệm lau Trầm để lại cùng cói khô. Bác Kha kiểm chỗ có thể nhấc cả đoạn lên khỏi bùn. Đầu ra đặt ở phần nhận còn cao hơn nước trong lượt đang làm, nhưng trên cọc có một vạch cảnh báo kỳ cao sẽ vượt. Người giữ ngoài nhận việc hạ đầu vào khi tới vạch, không chờ thấy nước tràn vào gốm mới chạy gọi.

Nhà trồng rau có người ngồi bên que riêng sát rễ. Miên đi đủ các điểm trước khi về cửa chốt, hỏi từng người có nhìn thấy dấu dừng từ chỗ mình không. Bờ rau không thấy vì một xe trống đã được đẩy xuống chắn, An nhờ kéo xe lên rồi thử lại. Vân nhận báo giữa, không tự kiêm cả khuân lẫn nhìn. Tới lúc tay người ngoài hiện rõ trên nền lau, Miên mới gật cho mẹ Thực xoay chìa một nấc thử.

An nghe đầu trả bằng thanh gỗ, thước gốm đặt ngoài phần nước mặn, giấy nhận riêng ở hai phía. Một dòng nhỏ rời nhánh cũ sang lối tạm. Bờ nơi lần trước đã căng còn yên trong lượt ấy. Anh muốn lấy sự yên làm một dấu đủ, nhìn đồng hồ nước thấy chưa qua khoảng trễ dài nhất. Anh giữ tay tại mức đánh, đợi phần đất sâu có giờ trả lời, trong khi sau lưng tiếng người đã bắt đầu hỏi sao lâu.

Khi que bên rau có dấu dịch, Miên nhận ngay, yêu cầu hạ thêm đầu nhận tổng ở phía trên trước khi đổi chốt. Nghiêu đứng tại đó làm đúng lượt đã tập. Dòng trong gốm thấp xuống, phần sau bờ không tiếp tục dâng. Họ chờ tới lúc hai bên nằm lại trong khoảng đã ghi, rồi lặp ở cùng mức nhỏ. Không có tiếng reo vì vừa tìm được cách dùng ít hơn điều họ đã hẹn; người trồng rau tự kiểm tờ của mình, nhận tiếp lượt sau.


Đến lượt hạ cuối, mẹ Thực phải dùng cả hai tay vào chìa. Cát ở chân chốt giữ nó lệch, răng đồng cọ phát tiếng nghiến. An giơ tay dừng trước khi bà cố thêm, nhờ Nghiêu hạ đầu vào về vị trí chờ. Anh lấy que mảnh khều từ mép ngoài, không thọc ngón dưới tấm đang chịu lực. Cát ra từng chút vào chiếc bát Thoa kê. Vân nhìn miệng chốt, gọi một vệt đất nhỏ rơi ở lưng bờ, khiến cả nhóm phải đứng yên kiểm lại chân.

Đất chỉ rơi từ mặt khô bị quai chìa quệt, vệt đo sâu không đổi. An nhờ người giữ bờ tự nhìn chỗ ấy, không lấy lời mình thay phần mắt họ. Khi mẹ Thực xoay tiếp, chốt xuống đúng rãnh đã sạch, tiếng đường cũ giảm dần thay vì tắt phựt. Đầu trả tạm còn nhận, đầu vào tổng giữ thấp. Một con chim vụt khỏi hàng lau, bóng cánh đi ngang mặt trắng, An nhìn theo một thoáng rồi quay về bàn tay bác Kha ở đầu nhận.

Họ chưa lấp ngay trên chốt. Miên đọc tới hết một lượt trễ ở ba điểm, cho mở lại chút ở mức thử để xem chân có còn nhấc được khi cần. Nó lên được. Bà mẹ thở ra, tự đặt về mức ngừng rồi cất chìa ở thắt lưng. Kênh không còn được nuôi như cũ, nhưng người ở bờ vẫn có cách đổi lại nếu đường trả hỏng trong những lượt chờ đầu. Phần lấp sẽ nằm sau chỗ giữ ấy, chừa lối kiểm, không chôn luôn cái cần dùng lúc nguy.

Thực xuống đoạn cạn trước, xúc đất cùng hai nhà đã nhận bù. Họ chỉ lấp nhánh cuối không còn dùng, từng lớp đầm thấp để nước mặt khỏi tìm một đường xói mới ra dải rau. An cùng người giữ bồn kê rãnh tạm về lối đã nhận, không đổ bùn mặn vét từ lòng kênh lên ruộng khô bên cạnh. Những lớp đen được mang vào ô chứa riêng đã đắp bờ, chờ có cách xử lý sau. Ngày ngừng kênh tạo thêm việc đất bẩn phải giữ, chẳng làm nó tự biến mất.

Lớp đầm thứ hai hiện một khe mềm ngay nơi ván cũ được nhấc. An lấy que chọc nông từ ngoài, thấy nước mặt đi xuống đó rồi mất, chưa tới rãnh mới. Thực muốn thêm đất phủ cho bằng, mẹ anh giữ xẻng lại, bảo ngày trước họ từng lấp một lỗ như thế rồi cả mặt sân sụt dưới gánh. Họ dỡ lớp vừa đầm, nhấc nốt mảnh ván mục còn nằm ngang dưới đó, đưa nước về rãnh tạm trước khi đặt lớp đất chắc xuống từ đáy. Công nửa buổi bị mở lại trước mắt những người đã trả vật tư. An báo nguyên phần phải thêm, nhận dùng thời gian của mình cùng Thực làm đủ chân thay vì che mặt cho đẹp trước lúc mọi người về.

Lưỡi xẻng đầu của mẹ Thực chạm một mảnh gốm vỡ. Bà nhặt lên nhìn, bảo mình nhớ tay người đặt đoạn ấy lúc cả bãi còn đợi cứu đậu. An nhận giữ nguyên mảnh, không dám bảo lựa chọn ngày đó chỉ toàn sai. Bảy năm trước họ cần một đường; bảy năm sau những ô và nhánh đã đổi, hôm nay họ đang trả giá để ngừng nó. Bà đặt gốm vào bát cát, nhận xẻng trở lại.


Nắng thấp lúc đất được đầm tới mặt cọc nhỏ. Thực đặt chiếc cào cũ lên bờ cao, nhìn những hàng hôm qua còn gom. Một khoảng đã ngừng nhận lượt nước sẽ không có muối đúng kỳ bán. Mẹ anh mang lúa từ sân ra một ít nấu cho người làm, tự giữ phần còn trong chum. Bà Mẫn nhận đủ phần đã đối, cạo khấc theo lượng thật; phần hẹn khác của Thực còn nguyên. Anh ấy cất thanh mình giữ, tới ăn muộn hơn mọi người.

An ngồi cạnh, muốn hỏi có nhẹ được phần nào không. Thực đưa anh bát, hỏi đêm nay ai giữ đầu ngoài. Câu hỏi cụ thể dễ trả lời hơn, anh đọc tên hai người đã nhận ca và chỉ đường gọi từ nhà. Thực yêu cầu họ tới nghe mẹ mình mở then, để nửa đêm người lạ gọi không bị tưởng đi lấy muối. Hai người cùng tới sân sau bữa, đứng chờ bà tự chỉ then và chỗ treo đèn.

Miên lấy nước giếng đầu, ghi giờ mới lên tờ. Nó còn mặn. Một người uống thử nhăn mặt, quay sang nhìn đoạn kênh vừa lấp như thể họ đã làm mất cả hai thứ. An nhận tờ, giải thích phần trong bùn và thành giếng chưa nhả hết, nhưng không bảo người ấy phải tin vì đã tốn công. Họ vẫn giữ khoản mua nước của những ngày chờ trong bản. Nếu hết lượt đã nhận mà dấu không đổi, nhóm phải nhìn lại đường, không được gọi sự kiên nhẫn của người khát là một phép đo.

Ở bậc giếng, Miên tháo giày đổ một ít bùn ra, bên gót đã trầy vì đi vòng lối mới cả ngày. An đưa nước sạch, nhờ người ca sau chuyển tới trước lúc cô rửa xong. Cô bảo cần về thay tất chứ không cần anh nhận luôn đêm mình đã giao lại. Anh gật, ngồi giữ hộp giấy trên đầu gối cho tới khi cô buộc giày khác. Lúc đứng lên, cô lấy đúng phần hộp mình mang, nhờ anh chỉ giữ đèn qua đoạn cầu trơn. Hai người đi chậm tới bờ cao, dừng ở đó để người nhận ca tự đi nốt phần cuối tới cọc.

Ở đầu ngoài, lối gốm nhả đều trong lượt chiều. Bác Kha thấy một cọng lau mắc mép, dùng cán nhấc khỏi phần dễ tới, ghi lên tờ giữ. An cùng bác nhìn khoảng khe nhỏ nơi nước ra, nhớ lời Trầm về lưới và mùa cá. Anh đánh dấu cần xem vào sáng, chưa cắm thêm tấm chắn cho sạch miệng ngay khi chưa biết nó sẽ giữ gì lại. Đêm tới sẽ thử đường hẹp với những thứ dưới nước, ngoài những con số họ đã đặt trên bàn.

Trước lúc rời, An chạm đầu chốt một lần cuối theo phép kiểm đã dạy cho người ca sau. Anh đứng lùi ra để người ấy tự làm, giữ đèn ở phía nhìn được. Mẹ Thực khóa túi chìa, cất vào chỗ chỉ người nhận ca đã được biết. Không ai mang nó về lò như một thứ chứng mình vừa thắng. Ngoài bờ, chiếc cào nằm cao hơn mặt kênh mới lấp; cán khô dần trong gió, còn dưới lối trả tiếng nước vẫn nhỏ, phải ghé gần mới nghe rõ.

Trang sách tiếp theo

Chương 32: Mắt lưới dưới bờ

Quyển II — Dưới đồng muối

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!