Chương 15: Ngày không nghe chuông
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 15 / 86

Chương 15: Ngày không nghe chuông

Khoảng 12 phút đọc

Quyển I — Bảy ngả nước

Người bán gốm hỏi An muốn mẻ đã giữ hay mẻ mới tới. Anh đáp mẻ đã giữ, rồi chỉ nhầm hộp có dấu mới. Người ấy lấy hộp theo tay, Vân vội ngăn. Giữa tiếng cân, tiếng guồng xe và tiếng người mặc cả sau lưng, An vừa nghe hai câu khác nhau chồng thành một.

Anh xin đặt mẫu lên bàn trống, quay tai phải gần hơn. Người bán nói lại, lần này chậm và to. Anh nghe chữ nhưng không giữ được hết tới cuối câu. Tối qua anh đã đối giấy tới lúc đèn hết dầu, cố bù buổi chiều ngồi dưới gốc thị. Sáng nay bầu trời không sáng quá, vậy mà các mép quầy vẫn làm anh nhức mắt.

Vân đặt tờ hẹn trước mặt, chỉ tên mẻ và số lượng. Người bán gõ một lần vào hộp đúng, chờ anh nhìn. An nhận ra việc cần làm, đếm đủ miếng kê rồi dừng, không mua thêm theo lời giới thiệu. Cậu nhận hàng đưa ra ngoài mái, còn anh ngồi lại để người sau qua quầy. Một người quen vỗ vai trái, anh giật mạnh làm lọ than rơi. Người ấy tưởng anh tránh mình, đứng sững giữa lối.

An nhặt lọ, nói mình không nghe từ phía đó và hôm nay đang mệt. Người quen bước ra ngoài, chừa khoảng sáng. Chỉ một câu giải thích đã làm anh mất thêm sức vì vẫn muốn nó nghe như không có việc gì đáng kể. Khi Vân quay lại, anh đưa cậu túi vật liệu, bảo mình sẽ không ra tuyến sáng nay.

Cậu hỏi có cần tới gọi Miên không. Anh nói cô ở hiện trường theo giờ đã nhận, nhờ cậu báo mình về nhà họp nghỉ, cô tiếp tục phần đo và dừng nếu thiếu người đủ sức giữ nút. Cậu nhắc hôm nay mới đối giá sửa, chưa được nối toàn tuyến. An gật, biết việc cậu nhớ ấy chính là phần có thể giữ người thợ khỏi tự làm quá lời mình.

Đường về đi qua chuông thứ nhất. Nó ngân một tiếng, An chỉ nhận được một va đục rồi tiếng nền lại lấp vào. Anh nhìn cờ trước, thấy không có báo dừng. Anh vẫn đi tiếp về nhà họp. Chiếc chuông mình làm không buộc anh ngày nào cũng phải nghe ra nó để được phép ở trong nghề.


Bà Từ đang gấp áo ngoài hiên. An tới, bà chỉ ghế phía trong rồi hỏi đã ăn chưa. Anh chưa. Bà đưa phần cơm nguội còn trong hộp, không đứng dậy nấu một bữa khác. Anh tự lấy nước, kê bát bên phải, ăn chậm vì nhai cũng kéo căng nửa mặt đang mỏi.

Bà đặt bên bàn một mảnh áo có ba đường chỉ Vân khâu. Hôm qua cậu đã tới đúng buổi hẹn với bà, còn An gửi lời ở ngoài đường nhưng không quay vào kịp. Cậu khâu được một mũi nhả, hai mũi còn vướng, đã khoanh chỗ cần hỏi. An nhìn nét khoanh, thấy mình không nhớ Vân nói điều ấy lúc nào giữa những lượt thử ở giếng.

— Cháu đã lỡ giờ của bà.

— Ta vẫn dạy được người có mặt. Giờ cháu không cần chạy thêm để bù một buổi đã qua.

Anh định lấy mảnh áo xem ngay, bà gập lại để mai. Hôm nay nghỉ không có nghĩa thay công ngoài ruộng bằng sửa mẫu trong nhà cho tới tối. Anh không thích bị nhìn rõ như thế, đẩy bát hơi xa rồi tự kéo về vì còn cơm. Bà tiếp tục gấp áo, không ngồi nhìn anh chịu nghỉ cho đúng.

Từ cửa, An nhìn được góc chuông cũ. Dưới chuông, khe rãnh còn để hở có một tấm lưới nhỏ ngăn trẻ thả đồ xuống. Anh chưa từng nhận việc làm tấm lưới ấy. Người trực đã đặt, ghi cạnh mép tên người đan và ngày kiểm. An nhận ra trong lúc mình đi qua ruộng và chợ, những việc ở nhà họp vẫn có thể sinh ra mà không cần đợi hỏi mình.

Anh nằm ở giường bên cửa sổ, chọn phía tai phải không ép xuống gối. Tiếng sân ban đầu khiến anh cứ mở mắt, đoán người bước qua có dừng lại không. Bà Từ khép rèm một nửa, để còn sáng nhưng bớt thấy bóng đi. Anh xin nếu có tin hiện trường thì gọi từ trước mặt. Bà đặt một cái ghế cạnh giường để người đưa tin biết đứng ở đâu, rồi trở ra hiên với phần việc của bà.


Người mang tin đầu tới gần trưa, đặt tờ giấy Vân ghi lên ghế. Một đoạn bờ phía đầu bồn sụt, cờ dừng đã lên. Chưa ai bị thương, chưa có nhánh sửa toàn tuyến được mở. Miên đang đối lại mức giếng, Cố Kính tới giúp theo lời người giữ mương. Họ gửi tin để An biết việc, không ghi yêu cầu anh ra.

An ngồi dậy. Chữ bờ sụt nằm đúng nơi hôm qua anh đã đi qua khi vẽ đường vòng. Anh hỏi người mang tin có thấy sụt sâu không. Người ấy chỉ đưa thư, không ở lúc đất mở. Anh suýt bắt người ấy chạy về hỏi thêm ngay, rồi nhìn ngoài sân: người ta còn chờ anh đem bao bột trả ở quán bên. Không phải ai đi qua cũng thành một chân của tổ vá.

Anh xin giấy khác, viết đúng ba câu cần biết nếu có người tiện về: vị trí cờ dừng, người giữ đầu nhận, mặt bờ còn đủ cho người qua hay không. Anh không vẽ cách chèn đất từ một chữ sụt. Bà Từ đọc bằng mắt, hỏi có cần nhờ người trực nhà họp chuyển không. Anh đồng ý trả công lượt đi riêng, để người đưa thư ban đầu được đem bột về như việc đã nhận.

Chờ tin làm anh khó chịu hơn lúc chưa biết. Anh nhấc túi trống theo thói quen, nhớ vật liệu Vân đã mang, đặt xuống. Cái giường không giữ anh bằng dây; anh có thể đứng lên đi, rồi làm Miên phải phân người vừa đo vừa trông mình. Anh uống nước, quay tờ giấy trắng xuống dưới vì cứ nhìn nó chỉ khiến những phương án chưa có đất đỡ xuất hiện mãi trong đầu.

Một lát sau, bà Diên tới ngoài ngõ cùng bó lúa. Bà đi qua để đổi phên, ghé hỏi anh có ra chiều không. An ngồi trên ghế, trả lời hôm nay không đủ sức giữ phần việc có lực. Bà nhìn anh lâu hơn anh muốn, rồi bảo bờ sụt nằm ngoài chỗ đã thử giếng; Vân nhận ra dấu chạy lệch trước khi người lớn thấy đất lún. Chính cậu đã nâng cờ dừng.

Bà nói vậy không phải để bảo công trình chẳng cần An. Bà còn cần anh xem cách sửa khi đủ sức. Hôm nay Miên đã yêu cầu giữ nguyên, họ đang dọn lúa khỏi mép thấp và chèn lối đi tạm, không kéo mạch qua chỗ chưa đứng. An hỏi có ai còn đứng dưới bờ không. Bà đáp đã gọi ra, giọng hơi bực vì phải nói lại điều mọi người ở đó đều biết. Anh cảm ơn, không hỏi thành ba lượt chỉ để mình được yên lòng.

Trước khi đi, bà đặt hai bông lúa còn tốt lên bàn, nói phần cắt sớm không hỏng hết. An nhìn chúng, không lấy cái còn tốt làm lý do quên phần đã mất. Anh nhờ bà báo sẽ đối ghi chú ngày mai, hôm nay ai đang giữ việc thì tên người ấy ghi vào công. Bà đáp Vân đã cầm giấy, chẳng đợi anh nhắc mới có tên.


Miên trở về khi bóng cây vừa qua cửa. Cô không đặt hộp cạnh giường, mang thẳng tới bàn để giấy ẩm được mở. Vân đi sau, tay áo có vệt đất dài, hộp mẫu vẫn nguyên. An muốn đứng lên giúp, Miên giơ bàn tay chờ như lúc báo mốc, chỉ chiếc ghế cạnh cửa để ba người nhìn thấy nhau.

Vân trải tờ đầu. Ở đầu bồn, mực vào chạy nhanh hơn những lượt đã đối nhưng đầu trả gần như đứng. Cậu tưởng đặt que sai, đổi sang dấu phụ vẫn thế. Nền lúc ấy chưa sụt, chỉ cỏ ở mép bờ nghiêng thêm. Cậu đã không biết có nên nâng cờ trước người đo chính không. Cô con gái ông Bửu đang dời phên nhìn thấy cậu nhìn cờ, bảo nếu chờ để xin phép thì cờ ấy treo làm gì.

Cậu nâng. Miên dừng lượt, yêu cầu mọi người ra khỏi bờ thấp rồi mới tới đo sát. Một hốc dưới lớp cỏ đã bị dòng chậm làm rỗng, bước lên có thể sụt thêm. Cố Kính tới sau, cùng người giữ mương đặt ván làm lối ngoài; không ai nối lại nút chỉ vì đã có người từng làm trạm chủ đứng đó. Họ giữ mức thấp từ đầu trên và dành chiều để đánh dấu nền, để việc sửa thật đợi đủ đo.

An nghe Vân kể, hỏi cậu đã ghi lần đổi que chưa. Có, dưới đây. Giờ bắt đầu tính từ lúc nào? Cậu chỉ dấu vải, thêm giờ cờ lên. Cậu không trả lời mọi câu đúng bằng điều đoán anh muốn; có một chỗ bảo chưa nhìn nên để trống. An đặt tay khỏi tờ giấy, để cậu giữ lấy nó. Cậu đã làm phần mình, không phải giữ một ngày như bản sao của người thợ vắng mặt.

Vân hỏi nếu lần sau dấu chạy lệch mà bờ không sụt thì việc nâng cờ có bị tính là làm chậm công không. An chưa nhìn hiện trường, không thể chứng từng dấu hôm nay, nhưng cờ dừng không cần chờ có hố thật mới được nâng. Miên chỉ hai lần cậu đã đổi que, nhắc đó là phần kiểm đủ để người khác nhận tiếp. Cậu ngồi thẳng hơn, rồi ghi thêm khoảng mình đã chần chừ trước khi cầm cờ. Chỗ ấy không làm hết phần đúng, vẫn là thứ cậu muốn buổi sau bớt đi. An không sửa thành một câu đẹp để bản giấy chỉ còn việc đáng khen.

Miên đưa bản cuối cho An, nói buổi đối giá sửa phải lùi. Mặt nền mới cần thử, bà Diên và ông Bửu đã nhận một lượt khảo sát bổ sung có giá trước. An nhìn số tiền, muốn nhận về mình vì hôm nay nghỉ. Cô hỏi nếu cô nghỉ một ngày thì phần đất sụt có thành lỗi cô không. Anh lắc đầu, thôi tìm cách trả cho cảm giác mắc nợ bằng những đồng họ còn cần mua vật liệu.

Vân về ăn cùng mẹ, hẹn sáng mai chỉ tới khi đã ăn xong. An nhận lời. Miên đậy hộp, mang tới hai gói xôi mua trên đường. Một gói của cô, một gói hỏi anh còn muốn ăn không; bà Từ đã có phần bữa nhà bên mang, không cần dậy thêm. Anh nhận, ngồi ngoài hiên nơi gió chỉ nhẹ từ phía phải.

Họ ăn một lúc không nói việc. Miên nhìn hàng chuông ngoài mương, bảo lúc thấy bờ lún cô cũng muốn có thêm người bên cạnh, nhưng đó phải là một người còn nhìn được giấy và giữ được mốc. An hỏi cô có giận việc anh nghỉ đúng buổi không. Cô đáp giận vì anh đã thức tới cạn dầu sau khi hẹn chỉ đối một khoảng, không giận chiếc giường đã giữ được anh hôm nay.

Anh cười nhỏ, không hứa từ nay sẽ luôn biết đủ. Anh xin tối nay cô giữ tờ đo, mai ở bàn sáng họ mới đối. Cô nhận, buộc gói giấy bằng sợi vải của mình. Chuông ngoài mương ngân một tiếng. An nhìn cờ, thấy người trực đã đáp, rồi quay lại nhặt hạt xôi dính ở ngón tay.

Ngày ấy anh không sửa được một mối nào, cũng không nghe rõ tiếng chuông mình làm. Tờ giấy Vân để lại vẫn nằm trên bàn có chỗ chưa ghi; sáng mai cậu sẽ tự điền phần kiểm được. An cất túi trống lên móc, không để nó ngay dưới chân giường chờ lúc ai đó vừa gọi là mình có thể lao đi. Miên ngồi thêm đến hết gói xôi, rồi về với hộp đo của cô.

Trang sách tiếp theo

Chương 16: Mối nối tháo được

Quyển I — Bảy ngả nước

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!