Chương 3: Giếng không có đáy trời
Quyển I — Bảy ngả nước
Giếng Đá Bạc rộng đến mức An nhìn thấy trong đó một khoảng trời tròn, nhưng không thấy chiếc gàu chạm nước. Du Miên buộc thêm dây. Cuộn thứ hai hết, cái gàu vẫn nhẹ bẫng.
An giữ đầu dây, cảm thấy cái gàu chạm vách mỗi khi Miên chuyển tay. Đường từ Hạ Ngạn tới đây đi qua triền cây thấp, anh đã tưởng có thể lần theo sự đổi dòng ngay dưới chân. Nhưng mặt đất ngoài ruộng không có tiếng rõ như đồng. Có chỗ anh nghe được rễ dẫn một nhịp nhỏ, đi thêm mấy bước nó mất dưới đá. Miên không đo bằng việc cúi xuống ở mọi nơi. Cô chọn các chỗ đã ghi từ trước, tìm dấu khắc trên cọc để đặt que đúng độ sâu cũ.
Tới giếng, An mới hiểu vì sao cô mang cả cuộn dây dài trong hộp dụng cụ vốn nặng. Một người khác ở Hạ Ngạn có thể nói nơi này cũng khô như xóm mình. Cái gàu nhẹ bẫng không cho phép anh dùng chữ “cũng” để bỏ qua phần hụt đêm qua.
Một ông lão ngồi cạnh bảo họ thôi đi.
— Từ trưa hôm qua. Chúng tôi tưởng Hạ Ngạn đã có nước, bèn chờ lượt mình.
An cúi đầu. Anh kể cả chuyện đường chỉ đêm trước, không bỏ quãng mình đã mở dòng quá mạnh. Ông lão nghe hết, rồi lấy dây gàu khỏi tay anh.
— Biết thì sửa. Cúi thêm cũng không ra nước.
Một người đàn bà mang thúng mận khô từ ngoài ngõ vào, nghe đoạn cuối thì dừng. Bà hỏi giếng Hạ Ngạn đã đủ nấu ăn chưa. An đáp có một ít, anh đã hạ dòng khi thấy giấy Đá Bạc nhạt thêm. Bà đặt thúng xuống, muốn họ tắt hẳn nhánh mới. Miên mở bản đo, chỉ rằng tắt cũng không trả được phần đã bị kéo lên trạm, nhưng có thể làm Hạ Ngạn mất nốt lớp giữ nước. Người đàn bà không muốn xem những vệt mực. Bà muốn ai đó đi kéo gàu với mình.
An nhận dây, cùng bà thả xuống lần nữa. Gàu chạm bùn, kéo lên được một lớp đen. Bà gạt nó bằng chiếc que, bảo thế này không thể đem về. Anh không kể lại cái bát đêm qua. Anh xin phép xuống vườn tìm mạch, hứa sẽ trở lại giếng báo biết được gì trước khi về. Lần này lời hứa chỉ dài đến một buổi, nhưng bà vẫn yêu cầu Miên nghe làm chứng.
Phía sau giếng là một vườn mận. Những cây gần tường vẫn xanh, còn giữa vườn, lá quăn từ đầu ngọn. An áp tai vào thân cây ngoài cùng, nghe tiếng linh khí mỏng trượt xuống rễ. Đến cây thứ ba, âm thanh đột ngột bị kéo ngang.
Ông lão chỉ nơi từng có mương dẫn nước vào vườn. An tưởng đường hút theo mương, đi được một quãng thì âm mỏng tắt. Anh quay lại cây thứ ba, gõ nhẹ trên thân rồi nghe một lần nữa. Người đàn bà giữ thúng không thích anh gõ vào cây đang yếu. Anh đặt búa xuống, dùng đầu ngón tay, nhờ bà chỉ chỗ cành đã khô để khỏi làm bong lớp vỏ còn sống.
Miên cắm ba que con theo hướng anh nghe. Que ở giữa chậm loang mực hơn hai que ngoài. Cô chưa đào ngay; thử chấm xuống lớp đất sâu thêm một ngón, thấy đường giữa đột ngột sẫm. Có thứ nằm dưới tầng rễ. Ông lão mang cuốc nhỏ thường dùng dặm cây. An nhận, để cuốc lớn của mình ngoài bờ. Họ cào đất từng lớp, Miên nhặt rễ nhỏ đặt sang một tấm vải ướt, còn người trong vườn ngồi giữ bóng cho chỗ vừa mở.
Du Miên đào chỗ đất cô đã đo. Dưới lớp rễ có một ống gốm mới, miệng quay về Bạch Đài. Nó không dẫn nước. Nó hút phần linh lực giữ nước ở lại trong tầng đất trên.
Họ lần theo ống đến nhà kho bỏ không. Cửa khóa bằng ấn đồng, cùng hình vuông trên mảnh dẫn An mang theo.
Ống đi thẳng qua lối người ta vẫn gánh mận, không men tường như ống cũ. Có đoạn phải nhấc một tảng đá lát mới thấy được miệng gốm sau. An đánh dấu từng chỗ để lát trả lại. Người đi qua hỏi ai cho đào, ông lão tự trả lời rằng mình cho, vì ống đang hút từ vườn nhà ông. An thấy nhẹ người quá sớm, đến lúc trước cửa kho mới nhận ra ông không có chìa nơi này.
Anh giơ mảnh đồng so với ấn. Nét móc khớp hướng. Trong kho có tiếng rít, đều và lạnh, không hề giống một căn nhà bỏ. Kìm của anh vừa kẹp được vành khóa thì Miên chặn lại. Cô đứng nghiêng để cả người từ vườn và người ngoài đường đều thấy nguyên mặt ấn, không phải chỉ thấy lưng hai người đang cúi trước cửa.
— Đừng phá — Du Miên nói, khi anh vừa lấy kìm. — Có dấu khóa mở còn hơn một cánh cửa bị chúng ta đập.
Cô đi gọi ông lão cùng hai người trồng mận. An chờ. Anh thấy chờ khó hơn tháo khóa, bởi trong kho có tiếng rít rất rõ, còn trong vườn thì không.
Ông lão vừa trở lại giếng lấy dây nên phải đợi thêm. Một người trẻ đề nghị trèo cửa sổ, bảo không ai trông kho từ mùa trước. An nhìn cửa sổ thông gió có thể luồn vừa vai, rồi cất kìm. Nếu vào trước, có lẽ anh sẽ tìm được đầu hút. Cũng có lẽ người trạm sẽ bảo anh đã đổi chỗ các tấm dẫn. Anh kéo chiếc ghế gãy ngoài hiên ngồi chờ, để hai tay trên đầu gối. Ngồi nguyên làm lưng anh cứng hơn lúc đào đất.
Miên trở lại cùng người làm chứng, đem cả một mảnh than. Cô nhờ họ nhìn hình khóa và đường bụi ở chân cửa, rồi tự vẽ lại. Một người hỏi cô có nghĩ họ biết đọc ấn không. Cô đáp không cần đọc; chỉ cần nhớ lúc tới cửa vẫn còn nguyên, sau mở bằng cách nào. Người ấy gật, đứng sát hơn để xem đầu chỉ An chuẩn bị đặt.
Khi đủ người làm chứng, Du Miên dùng que đo chạm quanh khóa. Lực giữ ấn không lớn; An nối một đường trả, để nó tự nhả. Cánh cửa mở ra, không mảnh đồng nào vỡ.
Anh phải kê một hòn đá trước cửa để nó không tự khép, rồi đứng né cho người vườn vào trước. Họ không nhận ra ngay những tấm đồng xếp trong hộc, chỉ thấy các quai quen có vết đất đen. Ông lão nhặt một tấm, chạm chỗ móp ở góc. Ông từng làm móp nó khi cùng người xóm lắp đường cũ vào mùa rét. Tên Đá Bạc khắc mặt sau bị úp xuống. Ông lật lại, không đưa An mà đặt trên nắp hộc cho mọi người nhìn.
Miên hỏi ai có thể đọc sổ cùng cô. Người trẻ định trèo cửa sổ khi nãy nhận đọc các con số, còn người đàn bà mang thúng nhận đối ngày với những đợt giếng hụt bà nhớ. An để họ làm, quay sang xem ống hút đi qua nền. Nếu rút ngay, sức dưới vườn sẽ dội vào chỗ nào? Anh đặt sợi chỉ cách miệng một khoảng nhỏ, chỉ nghe mà không nối.
Giữa kho là một hộc gỗ chứa các tấm dẫn cũ, cạnh đó có sổ giao nhận. An không đọc được những ký hiệu tính lưu lượng, nhưng anh nhận ra nét khắc trên từng tấm: Đá Bạc, Hạ Ngạn, Vườn Dâu. Đường dẫn của cả ba xóm đã bị tháo và thay bằng các nhánh đi thẳng lên trạm.
Du Miên đọc sổ. Ban đầu, lệnh chuyển dòng kéo dài ba ngày, để giữ trận bảo vệ thị trấn qua một đợt sạt lở. Sau đó có thêm ba ngày, thêm mười ngày. Các trang sau không còn ngày trả lại.
Trang cuối ghi số linh thạch dự phòng đang tăng.
Người đàn bà hỏi đá dự phòng ở đâu. Không ai trong kho biết. Người trẻ muốn mang hết sổ xuống nhà họp; Miên bảo nên có cả người giữ kho cùng đếm trang trước, nếu không họ lại tranh chuyện tờ nào bị lấy. Cô chép dòng lệnh đầu, nhờ hai người nhìn đối số. An nhìn vai những người ngồi quanh hộc: sáng nay họ chỉ định đi múc nước và giữ cây. Giờ họ phải học đọc một cách ghi chưa từng được mời xem để biết phần mình đã đi đâu.
Anh nhấc tấm có tên Hạ Ngạn, thấy đầu trả bị gỡ gọn, lỗ cũ còn nguyên. Không phải mạch tự suy; có người đã tháo, thay và quyết chưa lắp trở lại. Anh đặt xuống đúng chỗ, nhớ lời Miên ngoài sân nhà họp: dấu kiểm không tự nói ai ra lệnh. Họ đã có lệnh trong sổ, nhưng người ký chưa có mặt để nói vì sao.
An lấy bàn tay che miệng ống. Khí rít vào lòng tay anh, vừa lạnh vừa sâu. Ở đầu kia, người ta có thể nhìn một viên đá sáng lên và không thấy cả vườn mận rũ xuống.
Tiếng giày vang ngoài cửa.
Cố Kính bước vào một mình. Áo trạm chủ không dính đất. Ông nhìn những tấm dẫn, nhìn sổ mở, rồi nhìn bàn tay An.
— Cậu không biết mình đang tháo cái gì.
— Vậy xin ông nói ở đây — Du Miên đáp. — Trước những người có tên trong sổ.
Cố Kính im rất lâu. Ông không ra lệnh bắt họ. Ông bảo trận trên Bạch Đài đang giữ một vết nứt trong mạch núi. Nguồn cũ yếu hơn tính toán; nếu trả hết dòng về các xóm ngay, thị trấn có thể mất lớp chắn trước mùa mưa.
— Tôi đã cứu nơi này một lần — ông nói.
An nhớ đợt đá lở. Một buổi chợ phải dạt vào nhà, trên mái Bạch Đài có quầng sáng giữ những viên đá lơ lửng tới lúc người ta chạy khỏi đường. Anh cũng từng kể việc ấy khi có khách chê tiền trạm. Ký ức không làm chiếc gàu sáng nay nặng thêm. Anh chỉ vào dòng lệnh ba ngày trong sổ, hỏi khi hết ba ngày ai đo lại nguồn cũ.
Cố Kính đáp đã có bản đo, rồi ngừng trước câu hỏi lần sau ông xuống vườn là khi nào. Miên không thêm lời. Người đàn bà đứng sau hộc lấy tay che mắt nhìn ra sáng, nơi mấy quả mận đang rụng. An đợi ông nói tiếp, nhưng Cố chỉ nhìn ống gốm dưới chân. Người từng ra lệnh mở nó vẫn có thể đang tin không còn lựa chọn nào khác. An cần nhìn cái vết nứt ấy trước khi hứa sửa hay hứa phá.
Ông lão trồng mận nhặt tấm dẫn có tên xóm mình, phủi đất ở góc.
— Chúng tôi nhớ. Chúng tôi còn góp người khuân đá. Nhưng lúc ấy ông có hỏi chúng tôi.
Đó là câu đầu tiên khiến Cố Kính rời mắt khỏi An.
Ông lão đặt tấm dẫn xuống, yêu cầu đừng mang đi trước khi người xóm khác tới xem. Cố Kính gật. Miên ghi trang đang mở bằng một sợi cỏ khô, để người tới sau tìm được chính dòng họ vừa đọc. Người trẻ muốn khóa cửa lại bằng ấn. An bảo tháo đường trả sẽ khiến khóa nhận lực trở về, nhưng cần chìa trạm để người khác mở bình thường. Cố Kính lấy chìa từ đai áo, đặt vào lòng bàn tay ông lão.
An nhìn động tác ấy, không coi nó là đủ. Miệng ống vẫn hút dưới chân, vườn vẫn khát. Tuy vậy, lên trạm cùng người giữ chìa mới khác hẳn leo qua cửa sổ một mình. Anh thu chỉ thử, nhờ người đàn bà ghi nhớ những chỗ đất đã đào để chiều họ trở lại lấp đúng lớp rễ, rồi cầm cuốc ra ngoài chùi sơ bằng đất khô.
Du Miên khép sổ, đặt nguyên chỗ cũ.
— Đưa chúng tôi lên xem vết nứt. Nếu phải sửa cả thung lũng, đừng bắt chúng tôi đo bằng một tờ bảng đủ nước.
Cố Kính nhìn ra vườn. Một quả mận nhỏ rơi xuống bậc cửa, chưa kịp chín. Ông tránh nó khi bước đi, rồi dừng lại giữ cửa cho mọi người.
Chương 4: Người giữ trạm
Quyển I — Bảy ngả nước