Chương 18: Tên tổ vá trên vải
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 18 / 86

Chương 18: Tên tổ vá trên vải

Khoảng 12 phút đọc

Quyển I — Bảy ngả nước

Hai gốc mận giữ dấu vẫn còn đứng như lúc thử. Một gốc rụng thêm lá, gốc kia có chồi nhỏ nhưng chưa đủ để biết sẽ giữ được qua mùa. Ông lão Đá Bạc dẫn An tới, không đem giỏ quả theo. Lượt kiểm ban đầu hẹn sau bảy ngày đã được báo trước và nhận dời hai hôm để họ theo đủ hai ngày chạy ruộng. Hôm nay là ngày thứ chín, họ tới đối phần ấy, không tới nhận một món cảm ơn nữa.

Miên đặt bản cũ cạnh mảnh vải ở gốc, hỏi người đàn bà giữ thúng đã nhìn thấy gì. Bà đọc số lá rụng bằng những hòn sỏi cất trong túi, mỗi sáng nhặt một viên nếu dưới gốc có lá mới. Cách ấy không cho biết từng chiếc rụng lúc nào, nhưng bà nhớ ngày có gió mạnh. Miên ghi rõ, không đổi thành một hàng số tròn cho giống giấy mình.

An kiểm nơi nối thử đã tháo. Rễ nhỏ chưa bị rách thêm, mặt đất quanh gốc vẫn có túi ẩm. Đường ruộng mới làm giảm phần giằng ở tầng nông một chút, chưa khiến nó đều như cây trên cao. Anh báo điều nghe và điều tay nhận, xin người vườn tiếp tục nhìn chồi theo mùa, không treo một mối mới vào cây để ép nó trổ lá đúng ngày mình tới kiểm.

Người đàn bà hỏi vậy số cây chết vẫn phải đưa vào phần bồi hoàn à. An đáp phải ghi cây đã chết riêng với cây chưa biết, đúng như bà đã giữ dấu. Cố Kính tới cùng người giữ sổ, mang tờ đối thiệt hại đợt đầu. Ông không tranh chồi nhỏ nghĩa là cây đã được cứu. Tên ông còn ở phần phải trả, tên người kiểm vườn ở phần xác nhận; hai dòng không nhập lại vì ông đã giúp làm ruộng mấy hôm qua.

Chiếc gàu sửa quai treo cạnh giếng, không còn đựng kìm. Ông lão kéo đầy, cho An nhìn nẹp giữ được rồi đem tưới. An định đi theo phụ, ông chỉ đường xuống ruộng: hôm nay bên ấy có buổi nhận cuối, anh tới đúng giờ. An chào, cất bản đối vườn trong ngăn riêng. Công việc chưa xong ở một nơi không buộc anh cứ đứng đó thay những người đã biết làm phần tiếp.


Bà Diên đã chép bản giờ vào ra lên một tấm vải dày. Giấy giữ trong nhà, vải treo ở giá ngoài bồn. Cô con gái ông Bửu vẽ thêm hình phên để nhắc trước khi mở phải dời hết đồ, bên cạnh là một bàn tay ngang cho người không đọc được chữ. Vân nhìn mẫu, nhờ họ thử báo dừng bằng chính tấm ấy từ đầu lối. Một góc vải cuộn lại, che mất bàn tay. Bà tự lấy hai thanh tre kẹp mép.

An kiểm một mối nối do người giữ bồn tháo và lắp lại. Ông Bửu đứng nhìn giếng, bà Diên giữ đầu vào, người làm guồng giữ dấu mương. Vân lần này đứng ngoài ghi, không chạm giúp lúc tay người lớn ngập ngừng. Đầu trả được giữ, chốt rút, mảnh giữa ra vừa đủ để lấy cỏ bám. Người giữ bồn phủ dấu chờ, đợi mực lắng rồi lắp lại. Họ làm lâu hơn Vân, nhưng không cần An cầm lại dây.

Miên giao hai bản mốc, một bản dưới giấy có dấu sáp đã tách rộng để đọc bằng tay. Cô nhờ người nhận chỉ cho mình mức nào buộc dừng, mức nào chỉ báo cần đo lại. Có một người nhầm giữa hai dấu ở cuối. Cô sửa khoảng cách, thử thêm lượt, không đưa giấy xong rồi viết ai cũng đã biết. Bà Diên thở dài vì trễ giờ, vẫn đứng giữ cọc tới khi người ấy nói đúng bằng lời mình.

Sau trận mưa nhỏ vừa qua đêm, bờ mới chưa xê, chỗ kê hốc cũ có đất lỏng cần chèn. Người nhận bảo dưỡng ghi việc sáng mai, tự chọn ai tới khi đường ít xe. An chỉ xem họ có chừa người nhận ở đầu kia không, không đổi cả lịch theo thói quen mình. Phần kiểm của tổ được hẹn lại sau trận mưa lớn đầu, tiền giữ riêng theo bản đã nhận, không trộn hết vào khoản công hôm trước.

Bà Diên trả món cuối, yêu cầu viết tên người sẽ nhận tin nếu An đi nơi khác. Trước kia ai cũng gọi thợ chuông, giờ có việc mực, việc gốm, việc giữ bồn. An viết tên từng phần trên vải nháp, rồi dừng trước chỗ tên chung. Vân đề nghị cứ ghi tổ vá ở nhà họp. Người làm guồng bảo nhà họp có nhiều tổ, hỏi người tới từ xóm khác phải tìm ai.

Miên lấy bút, ghi “Tổ Vá Hạ Ngạn”, phía dưới là tên những người nhận việc cụ thể. Tên trên không tự nhận mọi việc dưới, Vân còn học phần nào được chép rõ. Cố Kính nhận công việc chân kê và hẹn kiểm, không giữ quyền ký một mình. Những người ở tuyến ruộng giữ bản đủ biết ai phải gọi trước khi mở, không cần nhớ cả câu chuyện vì sao An và Miên tới được đây.


Tấm vải thật do bà Từ cắt từ phần áo cũ còn bền. Bà ngồi dưới hiên, đưa Vân may đường viền. An muốn viết thật đều, mất ba lượt tập trên giấy. Miên bảo nét không cần đẹp như bảng trạm, chỉ cần người đứng ngoài cửa đọc được. Anh đành viết to hơn, để khoảng trống sau tên cho buộc các mảnh vải nhận việc theo ngày.

Tin có một tổ nhận sửa lan nhanh hơn họ tưởng. Buổi chiều hai người tới cùng lúc: một người muốn nối lại đèn sân, người kia muốn xem giếng xóm xa đã cạn từ mùa trước. Người giếng xa kể nghe An có thể giữ cả dòng trong người tới lúc nước trở về. Anh đặt bút, nói rõ đã có lần bị thương vì làm thế, nay không nhận giữ lực bằng cơ thể và không hứa một mình trả giếng.

Người ấy thất vọng, hỏi vậy tổ còn làm được gì. Miên đưa bản giá khảo sát, nhờ kể địa hình và người có thể dẫn tới đầu nguồn. Tổ có thể nhận một lượt đo sau khi biết đường đi, còn ngày hôm sau chưa trống. Người xin sửa đèn cứ tưởng việc nhỏ nên chen lên. Vân đưa hai ghế, xin từng người tới bàn riêng phần của mình, không cho ai đứng chen che giấy người đã ngồi.

Họ nhận đèn vào buổi sáng cách hai ngày, giếng xa chỉ nhận thư báo thêm địa hình, chưa thu tiền sửa. Người giữ bồn ruộng Diên ghé, nghe tên mình có trong lịch nên nhắc hôm ấy còn lịch kiểm sau mưa nếu trời đổi. An nhìn mấy mảnh vải mới buộc, bỏ một lời hẹn vừa định nói. Một cái tên treo ngoài cửa làm người ta tìm được họ; nó không làm ngày có thêm giờ.

Chiều học vẫn mở. Chị bán đậu chỉ cho người mới cách đánh đầu giấy, dùng bản vẽ khu vườn mình đã đo lại với Miên. Vân học tiếp mối nối dưới đất, chưa được dạy định tuyến cả thung lũng. Cố Kính ngồi một góc cùng người trực bể thứ ba xem mẫu chốt, được hỏi tới phần mình cũng phải mở giấy đối. Bà Từ đặt kim xuống lúc mỏi, đứng ra sân một lát rồi về nghỉ, lớp không ngừng chờ bà quay lại.

An ngồi ở bàn nhỏ ngoài hiên sửa đèn khách vừa mang. Một chiếc chỉ cần thay quai, chiếc kia hỏng đường trả bên trong. Anh gọi người nhận việc, báo phải đo thêm trước khi nói giá. Nói ra vẫn khó, dù hôm qua anh đã làm được với bà Diên. Anh ghi câu cần hỏi vào góc giấy, không tin một lần biết đúng sẽ tự giữ được mọi lần sau.


Lá thư hạ lưu tới theo người chở gốm, bọc cùng một mảnh vải khô có viền muối trắng. Người gửi là Nghiêu, thợ gốm ở Cồn Sậy. Ông nghe người đo trên thuyền kể Du Miên đã đọc được dấu tách trong những đường kéo sai nhịp, hỏi cô có nhận tới xem giếng vùng mình không. Giếng ở đó không thiếu dấu lực, nước lại mặn dần sau mỗi mùa gió. Những người tới trước chỉ thay ống rồi đi, dấu vẫn trở lại.

Miên đọc hết thư hai lần. Có dòng mực lấy từ một mẫu thử dưới đó, tách khác giấy Hạ Ngạn. Cô không nhận ra ngay do muối, do đất hay do cách chấm; chính chỗ không biết khiến cô ngồi thẳng hơn. An đứng bên phải cô, hỏi Nghiêu có nói cần sửa gì khác không. Cô chỉ dòng cuối: lò có những mẻ gốm cứ nứt sau khi đặt xuống đất, người làm muốn người tới xem cả vật liệu, không chỉ bảo thợ nung thêm lửa.

An đặt mẫu gốm nứt ở gốc thị cạnh thư. Mép gãy của nó có nguyên nhân họ đã nhìn được; mẻ dưới Cồn Sậy chưa chắc giống. Anh không viết trả lời bằng cách đã dùng ở đây. Anh đề nghị hỏi trước đất mặn lên lúc nào, đường tới, người giữ nguồn và chỗ có thể làm mẫu. Miên thêm phần giá đo, giờ có người nhận, và mùa cô có thể đi sau khi người ở lại giữ được lịch của mình.

Họ chọn sau Tết mới nhận hành trình, còn thời gian dạy người trực đọc mẫu và qua một lượt kiểm mưa. Nếu phía dưới cần trước, thư phải nói rõ để họ tìm người khác, không giữ khách bằng một ngày đi chưa thể thực hiện. Vân nghe từ bàn học, hỏi có phải ai đi cũng theo tổ không. An bảo cậu được chọn nhận đi hay học tiếp ở đây, còn phải nói cùng nhà và biết mình được trả phần gì. Cậu mang thư ra ánh sáng, nhìn tên bến xa, chưa đáp.

Vân hỏi có thể chép đoạn thư nói đường đi đem về nhà không. Cậu muốn mẹ thấy cần qua mấy bến, không chỉ nghe một nơi xa gọi là hạ lưu. An đưa giấy. Miên chỉ những khoảng người gửi chưa nói, để cậu không vẽ con đường liền như thể đã có chuyến thuyền đợi sẵn. Cậu đánh dấu hỏi cả chỗ tiền đi về, hỏi nếu tới nơi chỉ được nhìn học thì ai trả phần ấy. An ghi câu đó vào thư trả lời, không nhận thay bằng một lời bảo anh sẽ lo.

Người chở gốm chưa về bến trước chiều mai. Họ có một đêm hỏi những câu thật trước khi gửi, không cần khoác hành lý ngay để chứng tỏ mình háo hức. Vân chép xong, tự cất mẫu mũi khâu vào hộp học, để tên mình còn ở buổi mai đã nhận. Nơi sắp tới có thể có việc mới, nơi đang ở vẫn có người đợi cậu dạy cách đọc dấu trên chốt.

Bà Từ xin xem mảnh vải viền muối. Bà sờ thử, bảo giặt cũng phải biết thứ bám là gì, rồi trả ngay, không đọc ra một bí pháp từ mép trắng. An cười, lấy vải khô bọc riêng để giữ mẫu như người gửi muốn. Ông Cố ngẩng đầu, hỏi nếu tổ đi ai nhận kiểm chân kê sau đó. An chỉ những tên đã buộc theo ngày, xin ông và người dùng kiểm lại xem còn chỗ trống, không coi họ có tên là đã đủ.

Tối, An treo tấm vải ngoài hiên. Gió cuốn mép, Vân dùng cách kẹp tre của bà Diên giữ nó thẳng. Chữ đen hơi lệch nhưng đọc được từ ngoài sân: Tổ Vá Hạ Ngạn. Bên dưới có mảnh ghi mai nghỉ nửa buổi, mảnh ghi giờ nhận đèn và mảnh hẹn đo sau mưa. Một tên chung, mấy khoảng trống được để nguyên.

Miên đặt thư trả lời chờ gửi lên bàn, giữ bản của cô trong hộp. An thu chiếc đèn chưa sửa xong vào đúng ngăn, cất kim, đi ra đứng cùng cô nhìn bảy lá cờ xa. Một lá đổi màu, rồi người trực phía bên kia đáp. Lần này anh nhận được tiếng chuông ở tai phải, âm mảnh trong gió, và nhìn người học việc tự kéo mép vải ngay ngắn trước khi đóng cửa.

Trang sách tiếp theo

Chương 19: Lá thư có vị mặn

Quyển II — Dưới đồng muối

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!