Chương 44: Lá thư từ Bạch Đài
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 44 / 86

Chương 44: Lá thư từ Bạch Đài

Khoảng 12 phút đọc

Quyển III — Mùa bùn thức dậy

Người mang thư tới giữa buổi dọn sàn tạm, đi cùng chuyến nhận phên qua Cồn Sậy. Phong bì bọc hai lớp, dấu bến đầu đã nhạt vì nhiều ngày trên nước. An cất dụng cụ, mời người ấy ngồi uống rồi mới đọc. Bên trong là lời mời có mặt ở buổi rà bồi hoàn Bạch Đài, ngày họp còn cách mười hai ngày. Người giữ sổ muốn nghe phần anh biết về lúc chuyển dòng, cuộc thử trên đài và những gì đã hạ trong đêm đưa nước về.

Một tờ khác từ người từng giữ guồng gửi riêng, xin anh ký sẵn mấy dòng để người không hiểu nghề bớt cho rằng trạm chủ đã cố ý làm hại vườn. Tờ ấy kể nguy cơ đá lở và vai trò Cố Kính giữ đài trong lúc An ở dưới, rồi kết rằng đã không còn cách nào khác. Anh đọc lại câu cuối, đặt nó xuống cạnh tờ mời. Phần ông đã làm trong đêm có thật; phần không còn cách nào khác chưa từng được họ chứng như thế.

Miên nhìn, xin được đọc đúng phần An muốn hỏi. Anh đưa cả tờ, nhờ cô xem câu nào mình có thể ký bằng điều đã thấy. Cô chỉ chỗ trước khi họ lên đài, những ngày chuyển dòng kéo dài ngoài lệnh đầu, An không ở đó để biết hết. Anh từng nghe ông lão Đá Bạc nhắc có hỏi dân lúc cứu đá, từng thấy các trang không còn ngày trả nguồn. Không thể lấy việc mình cùng Cố vá sau đó làm một lời biết thay mọi ngày trước.

Cố Kính chỉ gửi một mảnh ngắn qua người giữ sổ, báo sẽ tới đủ buổi, nhờ nếu An nhận được thì kể nguyên những lần mình đã nói trong kho và trên trạm. Ông không nhờ ký tờ riêng kia. An xếp hai người gửi khác nhau vào hai ngăn, không để câu xin của người giữ guồng trở thành ý trạm chủ chưa nói. Anh nhận lời mời, còn tờ kết sẵn giữ lại để trả bằng một bản của mình.


Buổi bàn đường đi diễn ra ở sân Hào, có cả người nhận ca phía ngoài. An báo cần về Hạ Ngạn ít ngày, đường qua Cồn Sậy rồi ngược sông mất ít nhất năm ngày nếu chuyến thuận. Anh chỉ giữ phần mình có thể kể, không nhận đi rồi trở lại ngay hôm sau cho công trình khỏi phải đổi lịch. Miên đặt giờ khảo sát mình còn làm được trong khoảng ấy lên bàn, cần người ngoài tiếp tục đọc cùng.

Hào hỏi sàn nhà Khê đã dựng, nhóm có muốn để người nhà ở tạm suốt tới lúc anh về không. An đáp không, phần chuyển chỉ dùng đúng những lượt đã nhận. Bà Khê nhận giữ sàn vài hôm theo khoản sân đã trả, sau đó có thể cất bớt vật để chủ sân dùng lại khoảng của mình. Nếu đợt thử lớn dời, phần gỗ mượn và công kê phải đối thêm, không để cả bến chờ lịch một người đi làm chứng.

Trầm nhận ca ngoài theo giờ đang có, Nụ nhận xem các dấu ở đăng nhưng chưa mở thêm dòng khi không đủ người. Ván rãnh ở mức cũ, cả kè còn nguyên. Lợi có thể làm các mẫu cửa rời trên sân, chưa dựng gì tại bờ. Miên chọn giữ những việc giúp nhóm biết thêm mà không đổi mức nước, để khi người giữ đất cần rút lời trước lượt lớn vẫn có thể rút trước khi công trình đã cắm vào phần của họ.

Vân hỏi mình có phải về cùng không. An nhìn cậu, nhớ tiền về đã giữ, đáp đây là chuyện phần mình chứng, cậu có thể chọn ở lại việc đã nhận với Miên hoặc xin đi nhà nếu muốn. Cậu chọn ở lại thêm lượt đầu đã trả công, hỏi rõ ai đối điểm của mình khi An đi. Miên nhận phần ấy, Vân ghi ngày sẽ hỏi lại, không coi một tiếng ở lại là lời nhận mọi ca tới mùa sau. Cậu nhờ nếu gặp mẹ thì kể cả hai dấu mình đã chép sai trong mưa và cách đang đối lại, đừng chỉ mang về một câu vẫn học tốt.

An giao bản nghề của mình đủ chỗ dùng và chỗ chưa biết, giữ bản sao mang về. Miên có hộp gốc của cô, có quyền dừng phần việc nếu người nhận ca không đủ. Anh nói trước các nhà, để người tới hỏi khỏi đợi một cái tên đang trên thuyền rồi tự mở theo thói quen. Khi bữa bàn xong, cô kéo anh sang bên nhắc chuyến đi cũng cần ngủ, đừng nhận giữ hàng cả năm đêm chỉ để khỏi trừ tiền công chung.


An theo thuyền chở phên về Cồn Sậy, trả tiền bằng khoản riêng và nhận một lượt sửa nẹp thùng đã xem rõ để bớt phí. Việc xong tại bến đầu khi thuyền còn neo, người giữ hàng thử cả tải rồi nhận; anh có chỗ nằm những giờ nghỉ, không đổi nguyên khả năng tỉnh táo qua chuyến đi lấy một lời sẽ lo. Đêm đầu trên nước, anh mở bản tường trình của mình, viết từ điều đã thấy tại giếng Đá Bạc, dừng ở chỗ trước đó chỉ nghe qua người khác.

Tới đoạn sửa guồng của trạm trong trí nhớ, anh định ghi Cố đã nhận sai. Câu ấy đúng nhưng ngắn, không giữ được phần ông đã thừa nhận không xuống xem, chữ ký trên sổ, và những ngày vườn tiếp tục mất nước. An xóa câu tổng, chép riêng lời mình nhớ, phần nào cần người trong kho đối thì đánh dấu. Chữ lắc theo thuyền, anh đặt bút xuống trước khi nét cuối biến thành một cái tên sai.

Sau hai lượt ngủ, Cồn Sậy trở lại với bến xuồng đã quen. Anh ghé lò theo giờ thuyền dừng, thấy Thoa đang giao mẻ mới, không kéo chị khỏi người mua để chào dài. Kha ngủ ca trước, giếng đầu có người khác giữ đúng mức. Anh nhận một bát nước trong lượt được mời, hỏi giờ nào có thể gửi lời về hai giếng còn chờ, nhận bản nhắn ngắn từ người thợ địa phương đã tới khảo sát tiếp.

Nghiêu đang giũa một chân gốm, đặt xuống khi hết lượt tay mỏi chứ không vì thấy khách. Ông nhận phần nợ An tới đối, xem số thật trả từ tiền riêng, phần còn lại giữ ngày cũ. Không có lời biến chuyến về làm chứng thành dịp lò miễn hết khoản chậm hàng. An hỏi ông có thấy Vân hợp học gốm không, ông bảo tay cậu chịu nhìn, còn cậu muốn học bao lâu thì phải để cậu tới nói.

Thoa gửi một tờ hình lò cùng thời gian có thể nhận thêm người học một mùa, nhờ chuyển riêng cho Vân. Mẫu cong và nêm nở vẫn ở đúng ngăn có tên, ai tới cũng tìm được không cần Nghiêu bỏ việc. An nhận mang, để tờ ấy ngoài ngăn tường trình. Cậu học viên sẽ đọc một lời mời khác khi mình trở về, câu trả lời chưa nằm trên thuyền cùng người đang hỏi thay.

Con dao Thoa cho mượn được anh lấy ra, đưa chị xem mép còn nguyên, hỏi có cần trả ở chuyến này không. Chị cần một chiếc cho chuyến giao dài sau, nhận lại dao của mình và đưa anh mượn chiếc nhỏ khác đã kiểm cán. Hai người đối rõ, An bọc vào vỏ mới, không để vật có cùng công dụng thành một món cứ chuyền tay qua các bến rồi chẳng ai nhớ thuộc về ai.


Ba ngày ngược sông thêm, mưa đuổi theo những quãng thuyền phải né bờ lở. An ngủ đủ lượt được giao, có buổi phải đợi tại bến trong khi người lái hỏi tin phía trên. Anh đọc lại bản trước khi cất, viết thêm cả việc chính mình đã làm Đá Bạc hụt nhanh hơn đêm đầu và đã giảm nhánh sau khi Miên báo. Có một tờ kể đẹp sẽ nhẹ cho người cùng sửa; anh cần mang về một tờ còn có cả lỗi mình để người vườn đối được phần nghe từ chính anh.

Hạ Ngạn đón anh bằng tiếng chuông nhỏ ở phía phải. Anh ngẩng nhìn, cờ trên giá đổi và có người từ bể đáp tay; cái chuông cũ lớn vẫn chưa bị treo lại làm một tiếng cho mọi ngả. Trước hiên nhà họp có hai người học mới đặt dây thường trên tấm lót, chị bán đậu ngồi nhìn. Anh đứng ngoài chờ họ kết lượt, nhận mùi bếp quen trong áo ẩm đường dài, mắt cay lên dù chẳng có luồng lực nào đi qua.

Bà Từ ở gian bên, tay vẫn run lúc xếp kim. Bà nhận ra anh trước khi anh gọi, đưa tay kéo ghế về bên mình để anh nghe bằng tai phải. An ngồi, kể một giếng dưới đó ngọt trong mức thấp, hai giếng chưa, lò có người giữ và chặng đầm còn đang đo. Bà nghe hết rồi hỏi bữa gần nhất là khi nào. Anh cười, đáp vừa ăn trên thuyền, bà vẫn chia phần canh tối cho anh nhưng không bắt ăn thêm để chứng mình đã chăm được người về.

Anh lấy trong túi một mảnh bản vẽ thước hai mặt, chỉ chỗ sẹo ngón từng làm mình đọc lệch. Bà xem hình, hỏi người khác cầm có đọc được tới mức ấy không. Anh kể Kha dùng được phần dải rộng, còn các phần nhỏ vẫn phải đối cách khác. Bà đưa lại, nhờ sáng sau mang ra lớp một lát nếu rảnh, bà muốn xem học viên mới hỏi gì trước khi gọi nó tiện. An nhận, cất hình ở ngăn khác với giấy bồi hoàn, hai thứ cần được nghe bằng những câu hỏi khác nhau dù cùng về trong một chiếc túi.

Tới lúc gian vắng, anh kể thêm đêm cao ở Cồn Sậy đã phải ngồi xuống vì mùi bùn làm tay cứng. Bà không hỏi sao tới nay còn vậy, chỉ đưa chiếc áo khô anh từng bỏ lại, nhờ xem phần vai còn vừa không. Nó chật hơn khi anh giơ cao vì chuyến chèo làm cơ căng, vẫn đủ mặc lúc ngủ. Anh thay thử, nghe bà cười bảo cuối cùng có một món khỏi phải sửa trong buổi người vừa về. Chiếc áo cũ nhẹ hơn áo ẩm ngoài hiên, anh ngồi lại thở một lúc rồi mới mang bát ra rửa.

Miếng vá cột còn dưới vệt bụi mới, An chạm thấy mép tròn như lần bà yêu cầu sửa. Trong ngăn tổ có giờ kiểm sau mưa được người ở lại ghi, một ca đã đổi vì mẹ Vân bận, tên người thay có thật. Cố không ở nhà họp, đang cùng người dùng xem chân kê ngoài bể, sẽ về trước tối. Anh đem đồ xuống, thay áo khô, giữ tờ tường trình ở bên mình để sáng sang người giữ sổ trước buổi rà.

Người từng giữ guồng tới trước, hỏi anh đã ký tờ gửi chưa. An mời ngồi, đưa bản mình viết, nói sẽ xác nhận phần Cố đã giữ trạm và tự mở sổ, sẽ không ký câu không còn cách khác cho những ngày mình chưa biết. Người ấy bảo dân đang giận, có một câu của thợ chịu thương người ta dễ nghe hơn. Anh nhìn đôi tay đã thôi bỏng, quay tai phải tới nghe hết rồi đáp tai mất không làm mình biết nhiều hơn người đã đứng cạnh cây khát.

Ông cầm bản, im một lúc, hỏi có thể đối thêm phần lúc đổi guồng đêm ấy không. An nhận sáng hôm sau xem cùng giấy trực và những người có mặt, tách khỏi câu kết đã xin. Người ấy đồng ý, đi về lúc cờ ngoài bể chuyển trắng. An ra hiên đợi Cố Kính, thấy bóng ông đang đi cùng người giữ sổ trên đường thấp, một bên vai vẫn không đưa cao được như trước. Anh bước xuống đón, lần này mang một bản chuyện còn cần người khác kể tiếp.

Trang sách tiếp theo

Chương 45: Sổ nợ mùa mận

Quyển III — Mùa bùn thức dậy

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!