Chương 48: Đêm đầm đổi giọng
Quyển III — Mùa bùn thức dậy
Trầm mang tới hai cây đèn, một cây thiếu quai. An lấy dây buộc thay, nâng lên mới thấy ánh sáng lắc theo từng bước tay. Chị tháo nút của anh, buộc thấp hơn vào cán để miếng che khỏi quay vào bấc. Đèn này phải soi mốc, không phải làm hiệu, chị nói. Nếu dùng một vật cho cả hai việc, người nhìn xa sẽ tưởng họ đang gọi lúc chỉ cúi xuống đọc nước.
Miên chia ba chỗ đứng trên bản. Một ở góc ruộng vừa được chọn, một cạnh rễ giữ bờ, chỗ còn lại trên lối cao nhìn ra lạch. Họ chỉ đo dòng tự nhiên, ván ngoài kè vẫn ở mức cũ. Hào nhận ở đầu ruộng với một người đổi ca, Nụ nhận giờ sau khi kéo đăng xong. Người đưa tin đi lối đã thử lúc sáng, không cắt qua khoảnh giữa đầm dù rút được nửa đoạn.
An xếp cặp gốm vào hộp, chọn thêm thước gỗ và hai sợi chỉ buộc trên thanh đứng. Gốm từng qua Cồn Sậy cần được rửa, hong và đối lại ở đất mới. Anh cùng Miên làm lượt ấy trên bờ, ghi nền còn ẩm, chờ kim chỉ yên trong khoảng đã nhận. Dụng cụ có thể báo một thay đổi tại chỗ đặt, không cho biết mọi nhánh dưới bùn đang chảy về đâu. Phần hướng phải lấy từ hai đầu cùng giờ.
Trầm dẫn An đi trước khi tắt nắng. Ở một đoạn chị định bước qua khe, mũi dép chạm phần nền xốp mới. Chị rút chân, lấy sào dò rồi chuyển sang vòng ngoài. Đường chị đi tháng trước vẫn in một chỗ bùn khô, giờ phía dưới đã rỗng. An đánh thêm dấu, chị giữ sào ở đó cho người sau nhìn, không ngượng chuyện mình cũng phải dò lại đường quen.
Đến chòi, họ ăn cơm sớm. Miên để riêng hai phần gói cho ca sau, giữ bọc dầu khỏi sát bếp. An định gập tờ giờ vào túi áo, nàng chỉ hộp có nắp bên cạnh. Áo anh đã ướt lưng ngay từ lượt đi đầu. Anh đổi chỗ cất, nhớ chiếc áo của Vân trong mưa rồi dừng bàn tay định xoa phẳng một nếp giấy. Cậu đã đi, việc giữ tờ đêm nay thuộc người còn ở đây.
Tiếng đầm dày lên khi bờ tối hẳn. Lau xát nhau ở phía An tưởng là lạch, một con chim vụt ngang làm tiếng vỗ nước nảy tới bên tai phải. Anh quay đầu theo rồi thấy ngọn đèn Trầm vẫn đứng hướng khác. Khoảng tối bên trái không trả lại phần tiếng đã mất. Càng cố ghép mọi tiếng thành hình lòng đầm, anh càng thấy chúng dồn vào một phía gần mặt.
Trầm giơ lòng bàn tay trước ánh đèn. An dừng, nhìn xuống chỗ đặt chân thay vì tiến theo một tiếng rào vừa lớn lên. Một mảng bèo đang cọ vào cọc, không phải dòng đã tới mốc ruộng. Chị khều bèo ra bằng sào, đặt lại cây đèn cố định. Anh nói mình đã nghe nhầm phía. Chị đáp vậy thì phần báo vị trí đêm nay phải lấy bằng mắt, không đợi tới lúc anh nghe đủ mới tin cây cọc.
Họ dùng hai mặt thẻ sáng tối đã tập trên bờ. Người ở gần nhận thẻ phải giơ lại trước khi chuyển, một lượt không thấy đáp coi là chưa nhận. An nhìn thẻ Hào qua khoảng lau đã chừa, giơ mặt đúng lên rồi ghi giờ. Miên tới từ lối cao, đối với tờ của mình. Hai mốc cùng thời điểm chưa có chênh đáng kể, nhưng chỉ cạnh rễ hơi chùng dù mặt nước ngoài đang lên.
An ngồi trên tấm kê khô, kẹp thước giữa hai miếng gỗ, không ghì cả bàn tay xuống lớp bùn lạnh. Vết da cũ ở đầu ngón khiến một bên chỉ có vẻ căng hơn. Anh đổi người giữ, Trầm đặt cán theo dấu, Miên đọc lại. Vẻ lệch giảm khi lực tay được bỏ ra, phần chùng còn lại vẫn nằm ngoài khoảng hai người vừa đối. Nàng khoanh một vòng nhỏ, chưa kéo mũi tên ra khỏi nó.
Nụ tới đúng sau lượt đăng của chị, mang mùi cá và một chiếc giỏ đã đậy. Chị nhận đèn ở đầu lạch, bảo chỗ ấy cá chưa đi như buổi thử trước. An hỏi có nên chờ lâu hơn cho đủ một vòng. Chị nhìn tờ giờ rồi nhận thêm đúng khoảng ca đã trả, sau đó phải về làm mẻ khô. Hào chuyển người thay tới trước lúc hết giờ, để một lời muốn đo thêm không biến thành cả đêm của người khác.
Khi đổi người, đường báo mất một lượt. An thấy đèn vẫn sáng, tưởng đầu lạch đã nhận. Miên giữ cổ tay anh trước khi nét giờ được ghi. Người mới đứng phía sau tấm che, chưa thấy mặt thẻ. Nàng đi tới đưa thẻ đúng tầm, chờ đáp rồi mới quay lại. Dòng trống trên tờ ở nguyên chỗ, giữa hai giờ mà nước không vì họ thiếu một tín hiệu đã ngừng thay đổi.
Qua nửa đêm, thước cạnh rễ bắt đầu đổi trước mốc ruộng. Trầm chỉ vệt sẫm bò lên phần thân lau thấp, Miên đối độ cao với cọc xa. Mặt lạch vẫn còn dưới dấu ban chiều. An đặt tai phải gần thanh gỗ, nghe một tiếng rung đục rồi tiếng thứ hai từ phía bờ. Anh không tách được chúng là hai lượt hay một lượt truyền vòng qua nền ướt.
Anh nhấc đầu khỏi gỗ. “Ta không lấy tiếng này để tính nhịp.” Miên gạch phần tai nghe sang bên ghi chú, giữ hai số thước. Họ đặt một thanh nổi nhỏ trong khung máng hở hai đầu, kê ngay tại khe nước nông vốn đang chảy qua mép. Trầm giữ sào cạnh thanh, chờ đầu gỗ chạm dây giới hạn mới nhấc lên cho thử lại. Máng chỉ giữ thanh khỏi tạt ngang, không nối hay đào thêm đường vào đầm.
Miên đặt thước cân dọc hai cạnh, thấy đầu phía lạch thấp hơn vì chân kê lún. Họ nhấc khung ra, đọc dòng bằng lá khô thả trực tiếp trong khe trước, rồi kê lại trên hai viên đá đủ chắc. Nếu để máng tự dốc, thanh sẽ chạy theo chính tay người đặt. An đánh dấu mặt đá để buổi sau nhìn ra lúc nào nó đã nghiêng, không dùng một hướng trôi thuận mắt làm lời xác nhận cho bản vẽ.
Lá đầu mắc vào một cọng rễ, xoay mũi rồi đứng yên. Trầm chỉ nó cho An trước khi thả chiếc thứ hai ở phần giữa không vướng. Anh ghi lượt mắc riêng, không coi cái xoay ấy là nước đã đảo. Tới khi hai lá tiếp đi cùng hướng với thanh trong khung, họ mới nhận chiều nông ở đoạn ngắn này. Khoảng phía sau gốc lau còn tối và rậm, trên bản vẫn chưa có mũi tên.
Lượt đầu thanh trôi ra lạch. Lượt sau, khi chỉ dưới rễ đã đổi, nó vẫn trôi ra như cũ. An nhìn hai hướng không trùng, hiểu vì sao đường cong tưởng thuận trên mặt có thể giữ lực phía dưới thêm một đoạn. Nếu đưa một đầu trả kín tới đây, lúc đóng đầu nhận nó chưa chắc còn là đường đi ra. Họ cần để phần dồn lộ trong chỗ nhìn được, không bắt người trực đoán dưới chân.
Trầm đưa sào sang tìm mốc thấp. Mặt ván nhỏ cạnh gốc bỗng nhúc nhích, một đầu nhấc khỏi bùn. An tưởng đèn nghiêng, cúi tay giữ giá, chân định đặt xuống đúng khoảng ván vừa rời. Trầm kéo sào ngang trước ống chân anh. Anh đứng lại, thấy nước lấp một lớp mỏng bên dưới, ván cũ không còn nằm trên nền như lúc chiều. Không ai bước ra đè nó xuống.
Miên đưa dây từ phía chắc, cùng Trầm kéo tấm ván về bờ bằng móc. Bên dưới là hốc nông đầy rễ vụn, nước đi qua khiến một mảnh gỗ quay rồi mắc ngang. An giữ đèn cho hai người, không xuống gỡ bằng tay. Họ đánh chỗ không còn kê chân, đổi đường đứng lên cao và để hốc mở như nó đang có. Một tấm ván cũ được nhấc không phải lý do để tiện vét thêm đường trả chưa ai nhận.
Lúc đã yên, An mới nhận đầu gối mình đang căng. Cảm giác rút chân khỏi đất Cồn Sậy trở lại trong bắp, dù chân đêm nay chưa hề chìm. Anh báo cần đổi khỏi sát mép một lượt. Trầm đưa thước cho người thay đã tới, dẫn anh lên chỗ ngồi có lưng dựa. Miên không hỏi anh có thể cố được chăng; nàng lấy tờ giờ, nhận phần nhìn cọc cho tới lúc anh tự báo đủ tỉnh để đọc lại.
Từ lối cao, anh thấy ba đèn thành ba chấm tách nhau. Phần việc vẫn chạy khi bàn tay mình không giữ chỉ. Anh ăn một miếng cơm nguội, uống chậm, đợi cơn co lỏng ra. Khi trở xuống An chỉ nhận chỗ ghi có người đối cạnh mình, không lấy lại ngay chỗ mép nước. Giờ nghỉ được giữ trên tờ ca như những giờ đo, để sáng không ai ghép thành một đêm anh đã đứng liền không mỏi.
Gần sáng, chỉ cạnh rễ trở về khoảng đầu chậm hơn mặt lạch. Hào đưa tờ từ ruộng tới, mốc của anh đã đổi từ trước. Miên đặt hai bản bên nhau, khoanh đoạn lệch có giờ nhận rõ, chừa lượt mất tin trắng. An thử vẽ cửa theo đường tối qua, đầu bút dừng ngay chỗ đường trả vòng tới hốc. Nét kín ấy đẹp trên giấy, người vận hành sẽ không thấy lúc nó giữ ngược dưới chân.
Lợi tới sau giấc ngủ của mình, mang bát cháo mua ở bến. Anh không chịu nghe một lời “làm cao hơn” chung chung, đặt thanh mẫu xuống hỏi phải cao để mắt thấy hay để nước qua. An dùng ba hòn đất đánh đầu nhận, khoảng giữ và đầu trả. Phần dẫn lực phải có chỗ tháo riêng, phần nước phải có khe tràn hở ra chỗ đã nhận, chân đứng của người thao tác phải ở ngoài cả hai.
Họ kê thử thanh trên hai viên gạch, dùng dây thay chốt. Trầm cầm đầu chỉ đường cong, Hào cầm đoạn gần ruộng. Khi Hào hạ tay làm đầu nhận ngừng, Trầm còn giữ căng thêm đúng khoảng đã đo. Lợi thử rút cả hai chốt cùng lượt, thanh mẫu giật về bên chân. Anh buông, đánh dấu hai lỗ khác nhau: một cho hạ đầu nhận trước, một còn giữ đường trả cho tới khi dấu bên kia đã về.
An muốn chốt ngay độ dài chờ. Miên đẩy tờ có lượt tin trống tới, nhắc một đêm chưa cho được một số dùng mọi hôm. Họ chọn thử lại đêm sau với ca ngắn hơn, Nụ nhận đúng đầu giờ còn người thay tới sớm. An gật, tháo nút vừa buộc thành cố định trên dây mẫu. Buổi sáng chỉ đủ loại một đường nguy hiểm, chưa đủ ban một nhịp cho cả mùa nước.
Đêm kế, anh đứng ở chỗ ghi trên lối cao. Mốc cạnh rễ lại đổi trước, lần này phần chênh ngắn hơn, cùng chiều và trong hai mép khác nhau họ đã thấy. Trầm nâng thẻ, người giữa nhận rồi chuyển, An chờ mặt đáp mới đặt bút. Một con chim kêu sau lưng, anh vẫn quay đầu theo tiếng; lúc quay lại, tín hiệu còn ở đúng chỗ để mắt anh tìm, không bị một cái ngoảnh đầu biến thành lệnh đã nhận.
Lợi tháo thanh mẫu lúc trời nhạt. Cửa thật còn phải làm trên sân, phần kè chưa động, lúa vẫn trong khoảnh đã hẹn. Trầm nhận lại cây đèn thiếu quai, thử nút An đã buộc thấp rồi đặt nó vào giỏ. Anh cảm ơn chị vì cây sào đêm trước. Chị đáp hôm nay anh giữ đèn sáng đều hơn, mai ai ở mép cũng cần phần sáng ấy. Hai người đi trên lối cao đã đổi, để hốc nước phía dưới tiếp tục trở về theo nhịp của nó.
Chương 49: Bờ kè có cửa
Quyển III — Mùa bùn thức dậy