Chương 12: Mũi kim của người khác
Mục lục cuốn sách86 phần
Phần 12 / 86

Chương 12: Mũi kim của người khác

Khoảng 12 phút đọc

Quyển I — Bảy ngả nước

Bà Từ xâu kim hụt lần thứ ba, đặt cuộn chỉ xuống. Vân đã giơ tay chờ, trên cổ tay cậu có sợi chỉ tập mua từ tiền công hôm trước. An ngồi bên cửa, vừa gọt xong hai miếng kê để đem ra ruộng. Anh nhìn cây kim, định cầm giúp, nhưng bà đưa nó thẳng cho Vân.

— Mắt cháu còn thấy lỗ. Xâu đi.

Cậu làm được ngay, vẻ mặt sáng lên quá sớm. Bà trải miếng áo cũ, yêu cầu khâu một đường phải mở được khi kéo đầu bên kia. Vân quen buộc dây gánh, mũi đầu siết chặt tới mức vải nhăn. Cậu nhìn An, anh chỉ ngồi kê hai đầu vải theo lời bà, không đưa đáp án thay. Bà Từ nhấc cái bát, đặt giữa phần nhăn, bảo làm vậy nước vào đâu mà có chỗ ở.

Vân tháo chỉ, mất nhiều thời gian hơn khâu. Đầu kim mắc sợi vải, cậu phải xin bà kéo hướng khác. Cậu hỏi vì sao học vá mạch lại cần áo rách. Bà chỉ nút giữ quai gánh cậu đang đeo ở thắt lưng: nút ấy phải giữ chặt cả chuyến đi; mối ở đoạn dẫn có lúc cần mở khi đang mang lực. Một tay biết siết không có nghĩa đã biết nhả.

An nghĩ tới nút đầu đêm vá. Anh đã tập nhả, vẫn có khoảng phải giữ vì phía xa chưa nhận. Không có mũi kim nào tự giải hết điều đó. Anh lấy miếng kê, nhờ Vân khâu sao cho không để bụng chỉ quệt xuống nền ướt. Cậu vạch khoảng trống bằng hai hạt đậu, khâu chậm hơn. Lần kéo thử, đầu nhả còn mắc, nhưng vải không nhăn thành cục nữa.

Bà Từ đứng dậy tới cửa, đặt một bàn tay trên xà cho khỏi chóng mặt. An hỏi bà có xem tiếp tối nay không, sau buổi họ đi đo về. Bà đáp tối nay sẽ ngủ sớm; cả ngày hôm qua bà đã sửa áo cho người trực, hai ngón tay còn tê. Anh thoáng nghĩ chỉ một mối thôi sẽ không lâu, rồi thấy Vân nhìn mình chờ lời xác nhận. Anh ghi lại phần cần thử, hỏi sáng ngày kia bà có rảnh một lúc không. Bà chọn giờ sau bữa, không hẹn trước lúc mặt trời lên để một người khác lại lo bà đợi.


Họ phải đi chợ trước khi ra ruộng, vì hai miếng gốm kê lấy từ kho đều đã sứt. Vân ôm hộp mẫu, háo hức đứng cạnh quầy có những vòng gốm tráng sáng. Người bán đưa chiếc đẹp nhất, gõ lên cho nghe trong. An xoay tai phải, giữa tiếng chợ chỉ nhận được một âm ngắn. Anh không mua bằng âm ấy, xin xem mặt cắt một chiếc vỡ cùng mẻ.

Người bán không thích làm vỡ hàng. Vân chỉ giỏ mảnh dưới chân, hỏi có phần cùng mẻ ở đó không. Người ấy lấy ra một mảnh, An nhìn thấy lớp đất hai màu. Mép tráng kín có thể che vết rạn khi nhận lực. Anh lấy tấm đồng của mình gõ vào mảnh vỡ, nhờ Vân nghe hai lần rồi giữ cổ tay để anh cảm lượt dừng. Cậu báo tiếng thứ hai không khác. Tay An lại nhận nó lắng chậm hơn ở góc dày, chưa biết vì tay mình hay vì gốm.

Anh đề nghị mua một mảnh vỡ làm mẫu thử trước, chưa lấy cả bộ vòng. Người bán hỏi đi vá giếng hay đi tuyển rể mà chọn kỹ. Vân cười, An nghe sót nửa câu phải nhờ nhắc lại. Anh cũng cười sau, không gật cho xong để rồi mua thứ chưa kiểm. Người bán bớt gắt, nhận giá mảnh vỡ, chỉ dấu dưới đáy: đồ hạ lưu, mẻ này đi cùng thuyền muối, muốn mua thêm phải đợi chuyến sau.

Ở quầy bên, họ tìm được gốm thô không đẹp nhưng đều thành. An chỉ mua đủ ba miếng kê thử, ghi nơi bán và mẻ, giữ một mảnh chưa dùng làm đối. Vân muốn mua dây chỉ có ánh vàng lấp lánh. Người bán bảo mới nhìn đã biết hợp tay tu luyện. An hỏi nó nhận lực bao lâu, trả ra ở đầu nào. Người bán chỉ tiếp tục kéo sợi cho sáng. Vân đặt xuống trước khi An nói thêm, cất cuộn chỉ tập màu xám vào hộp.

Ra khỏi dãy quầy, An phải ngồi dưới mái một lát. Tiếng người đến cùng phía làm tai phải mỏi, nửa trán đau như có dây căng. Vân không hỏi anh có nghe lại bên trái chưa. Cậu mở hộp, cho anh xem mẫu vừa mua và chữ mình ghi thiếu. An sửa tên quầy, chờ tiếng nền trong đầu bớt dồn mới đứng. Họ đến ruộng chậm hơn dự tính, gửi người đi trước báo bà Diên một lần, không để bà đo thời gian chờ bằng việc lúa tiếp tục ngập.


Miên đã có mặt cạnh cọc. Bà Diên giữ ba dấu nước buổi sớm, một dấu bị nhòe vì tờ giấy chạm vạt áo ướt. Cô vẫn để nguyên, không đoán lại một nét đẹp để lấp nó. Vân lấy giờ tới ghi xuống dưới, nhận giữ bản đối trên bờ khô. An đặt gốm lên tấm vải, báo hôm nay dùng một miếng có dấu để thử, chưa nối cả tuyến.

Mặt đường cạnh gốc thị rắn hơn chỗ ruộng. Họ chưa được đào dưới bánh xe, chỉ mở một hốc nhỏ ngoài mép với người giữ mương đứng nhìn. An cắm hai đầu chỉ ở cùng độ sâu, đặt vòng qua miếng kê. Miên chấm mực, Vân đánh dấu gốm chỉ để tới trưa có thể tháo đúng chỗ. Cậu lấy than vạch ở mép ngoài dễ nhìn. An sắp gật thì thấy khi lấp đất mép ấy sẽ quay xuống dưới. Cậu ghi đúng mẫu nhưng không đúng cách mẫu sẽ nằm.

Anh đưa gốm để cậu tự đặt vào hốc, không nói trước lỗi ở đâu. Vân cúi nhìn từ lối đứng thật, phát hiện dấu than biến mất. Cậu xoay để thấy dấu, đầu chỉ lại chạm nền. Miên chờ tay cậu dừng mới chấm giấy, vì cô cần biết số nào thuộc tư thế nào. Lần thứ ba, cậu đánh dấu cả mặt trên lẫn bờ ngoài, thêm hai hạt đất ở lối tới. Giờ người tới tháo không phải đoán theo trí nhớ người đặt.

Dòng thử rất yếu. An đặt ngón tay lên thanh gỗ kê, nhận được một rung dài. Miên báo đầu vào thấp, đầu trả chưa có dấu. Anh tưởng mối Vân làm chưa nhả, cúi nhìn. Nút vẫn đúng; đất dưới gốm hút một phần, khiến lực về chậm. Anh chờ thêm theo khoảng đã định, ngón tay nhận rung thứ hai. Miên đánh dấu lúc đó. Vân chỉ ghi một, vì cậu lấy thời gian từ lúc mình đặt tay thay vì từ lúc mở đầu vào.

Họ tháo thử, làm lại bằng một tiếng gõ lên mặt gỗ báo bắt đầu, đồng thời nâng một mảnh vải cho Vân nhìn. An nhìn vải, Miên nghe gõ, Vân nhìn tay người mở. Ba cách nhận cùng một mốc, rồi mỗi người đọc phần mình độc lập. Lượt sau Vân ghi được hai lần nhưng lần thứ hai muộn hơn Miên một khoảng. Cậu không gạch để giống cô. An đặt hai bản cạnh nhau, tìm ra cậu phải quay sang nhặt bút giữa chừng và bỏ mắt khỏi dấu.

Người giữ mương giục vì cần đưa xe qua. Họ trả nền tạm trước, giữ miếng gốm ra ngoài để không nhận lực khi bánh xe đè. Vân tiếc lượt chưa đẹp, hỏi có làm thêm ngay sau xe không. Miên báo hôm nay chỉ đủ giờ giữ dấu tới trưa, buổi sau còn cần đúng chỗ sáng. An thu chỉ, chấp nhận đem về ba lượt khác nhau. Có lỗi còn tìm được chỗ sửa, không cần một tờ giống nhau để về nhà nói đã thành.

Chiếc xe tới từ phía trái, An chỉ thấy bóng bánh đè qua mép giấy khi đã cúi lấy miếng kê cuối. Vân không kịp gọi, đưa thanh gỗ chắn ngang tầm mắt anh. An ngừng, nhìn lên rồi lùi khỏi vệt bánh. Người đánh xe ghì lại, hỏi đã báo từ đầu đường sao không nghe. Vân chỉ tai trái của An, bị anh ngăn bằng một cái chạm nhẹ vào vai. Anh tự nói mình không nghe rõ phía ấy, nhờ người chờ tay báo đã nhận thay vì chỉ gọi từ xa. Người đánh xe gật, không cần cả bờ ruộng phải biết chuyện đêm vá.

Qua lượt xe, An nhặt giấy lên, lau phần bụi chứ không tô lại các dấu bị bánh làm xước. Miên đánh riêng lượt ấy không dùng đối số. Bà Diên mang hai cọc từ chân bạt tới, cắm thành chỗ đặt hộp ngoài đường xe, để lần tới không phải phụ thuộc việc Vân luôn nhớ nhìn giúp. Cậu hỏi vậy mảnh vải báo mốc cũng phải hướng về lối xe phải không. An lấy cán gỗ chỉ hai vị trí: báo bắt đầu nhìn người giữ nút, báo đường trống nhìn người tới đường. Một vật không thể chỉ đúng cả hai nếu người giữ nó quay lưng.

Họ chọn thêm chỗ người canh đường sẽ đứng khi đào, chưa điền tên. An ghi vào phần công phải hỏi, không lấy một em học việc làm người nhìn hộ mọi phía trong lúc vẫn bắt ghi số thật đẹp. Tờ mang về nhiều khoảng trắng hơn lúc mới đi, nhưng mỗi khoảng đã có việc rõ để lần sau bớt phải chạy theo sửa giữa bánh xe.


Buổi tối, bà Từ đã khép cửa phòng. An đặt đèn ngoài hiên, nhắc Vân nói nhỏ, rồi đổi ý: nói nhỏ khiến anh không nghe, tốt hơn kéo bàn ra xa cửa. Hai người khiêng bàn, không nhờ bà dậy kê giúp như mọi lần. Miên ở bàn trong chép dữ liệu của mình, giữ những khoảng chưa khớp để sáng cùng đối. Hôm nay cô không ngồi giữa hai thầy trò làm người giải nghĩa.

An làm một giá gỗ có ba rãnh đặt gốm ở ba tư thế đã thử. Vân buộc chỉ thường theo mũi khâu buổi sáng, đặt một đầu vào bát, một đầu ra chậu. Không dùng linh sa tối nay; họ cần tập bắt cùng mốc và ghi cho đúng trước khi đem mối ra đất. An cầm que gõ nhưng không được nhìn tờ của cậu. Cậu nhìn vải treo trên giá, vừa thấy nâng phải đặt ngay hạt đậu thứ nhất thay vì tìm bút.

Lượt đầu, vải mắc cạnh đèn, không nâng đủ. Vân vẫn bắt đầu vì nghe tiếng gõ. An xin cậu giữ nguyên việc đã thấy, không làm theo điều đoán rằng anh muốn. Họ sửa vị trí vải. Lượt hai An gõ nhẹ quá, chính anh cũng không chắc đã có rung tới mép bàn chưa. Vân báo đã thấy mốc, bản kia để trống. Lỗi lần này thuộc người báo, không phải người mới học. An đánh dấu ở rãnh giá, dời que sang chỗ cho rung đều hơn.

Miên đi ra lấy bát nước, đứng xem một lượt rồi chỉ vào ngọn đèn. Từ lối ngoài sân, vải tối lẫn với bóng tường. Vân lấy miếng vải trắng của mẹ dùng buộc viên đá giao ca, căng lên cán nhỏ. Cậu xin đem trả sau buổi thử, vì sáng mai mẹ cần nó. An cắt một miếng vải của mình làm mẫu khác, để đồ của mỗi người không lại biến vào một cái gàu chung.

Tới lượt cuối, hai người cùng ghi một mốc bắt đầu, hai lần chạm khác nhau và một chỗ chưa nhận được. Vân muốn gọi bà Từ ra xem. An nhìn cửa đã tắt đèn, nói để sáng ngày kia như hẹn. Cậu gấp tờ mẫu, tự khâu thêm một đường chỉ thường trên mảnh áo: đủ chỗ nhả, không chạm mặt bàn, kéo ra được bằng một đầu.

An thử bằng tay phải. Ngón trỏ còn hơi cứng, anh kéo chậm, mối mở như cậu đã đặt. Anh không kể nó giống một điều mình đã biết từ lâu. Anh để nguyên mảnh áo ở phía Vân, nhờ cậu mai chỉ lại cho mình cách giữ bụng chỉ khi đi qua mép gốm. Phòng bà Từ vẫn im. Ngoài hiên, hai người cất đèn bằng tay của họ, không gọi người đã dạy ngồi thêm để chứng kiến việc học có thể tiếp tục.

Trang sách tiếp theo

Chương 13: Dưới lớp rễ thị

Quyển I — Bảy ngả nước

Đọc tiếp
Đã sao chép liên kết!