Chương 52: Chỗ lau mọc lại
Quyển III — Mùa bùn thức dậy
Ba tuần sau lượt mở đầu, bãi vẫn trơ nhiều hơn xanh. An đứng ở cọc cũ với một tờ đo đã khô, nhìn vệt bùn nứt thành những hình nhỏ giữa hai lần nhận. Nước qua được cửa, không nằm dồn suốt lượt, nhưng rễ dưới vạt đất cũ chưa vì thế thành rễ còn sống. Một mầm nhọn mọc sát chân rạ khiến anh cúi xuống. Trầm lấy đầu sào chỉ gốc: lúa sót đang lên, không phải lau trở về như anh vừa tưởng.
Chị cười một tiếng, rồi nhìn xa hơn về phần mình từng cắt. Đường phên cũ nằm ngoài bãi đã mua quyền, chỉ còn mấy gốc cháy sẫm. An hỏi liệu cần đưa thêm một lượt nước vào sâu hơn. Trầm không nhận ngay như trước; chị bới rất nông ở chỗ đã lấy mẫu, đưa lên một phần gốc mềm mùi úng. Chị cũng đã tưởng có đường nước là lau sẽ biết tự tìm lại, nhưng phần dưới tay không còn chắc để đẩy lá.
Miên tới từ mốc nhà Khê, báo mực qua các lượt vẫn ở dải đã nhận, không có nghĩa mọi khoảng trống trong bản cần được lấp bằng một thành công. Hào vừa gặt nốt dải cao giữ lại hôm mưa sớm, còn mang bó mẫu qua cân với Yến. Họ cần phần xem chênh thóc đã hẹn. An theo về kho trước, để câu hỏi lau chờ đúng người và đúng giờ, không bỏ phần lúa vừa xong để chạy theo một màu xanh mới.
Yến trải hai nong. Phần dải cao chín thêm cho hạt chắc hơn, nhưng có một góc đổ vì mưa, không thể lấy toàn bộ làm ruộng nếu trời thuận. Miên giữ khoảng ước đã nói từ trước, Hào chọn số bồi bổ sung cùng những người góp sau khi xem hạt thật. An phụ buộc bao gạo nhận thêm cho nhà, không đem số ngày cửa đã dùng ổn ra trừ vào một phần vụ họ đã bỏ trước khi nước tới.
Khi việc kho xong, Yến đi cùng họ ra bãi. Chị chấp nhận một ô theo dõi trong phần đất tràn hai mùa, muốn có góc nhìn được khi đi qua chứ không giấu sau chòi để chỉ thợ biết. Hào xin giữ một dải không động làm mốc đất tự đổi, kể cả lúc nó xấu hơn ô có chăm. An cắm thước ở ngoài, tự nhắc mình đã tới đây để giúp nước đi về, không phải vì thế có quyền quyết cây nào phải mọc.
Trầm chọn chỗ lấy rễ trên phần bãi chị được phép cắt. Chị cầm dao mảnh, nhấc một khóm đủ nhỏ để phần bên cạnh còn tựa. An mang giỏ tới, định lấy thêm từ chỗ rậm cho khỏi phải đi lại. Chị gõ cán dao lên vành, chỉ phần nền vừa hở. Rậm ở trên không cho biết dưới còn bao nhiêu chân chắc; lấy quá một mảng sẽ cho chỗ cũ thêm mép bị lở, còn ô mới chưa chắc giữ nổi.
Họ trả lại đất rời, nén bằng mặt bàn tay rồi phủ ít lá đã rụng. Trầm giữ khóm trong vải ẩm, không nhét xuống đáy giỏ cùng dụng cụ nặng. Trên đường về, chị dừng ở chỗ có lối cá để An nhìn bóng dưới nước. Có mấy con nhỏ đứng gần rễ, một chiếc rọ bỏ quên nằm nghiêng ngay phía trong. Nụ nhận tin, tới nhấc rọ theo chủ sau khi gỡ chỗ mắc; không có mẻ cá nào được bày làm bằng chứng cả đầm đã đông lại.
Ô thử chia ba phần bằng dây buộc thấp ở cọc ngoài, không dựng vách kín làm nước mỗi bên thành khác hẳn. Một phần để nguyên, một phần chỉ xới lớp mặt tới độ đã nhận, phần cuối nhận vài khóm rễ sống cùng cách xới. Miên đo cao độ trước khi làm, An giúp giữ cùng giờ nhận nước theo cửa chung. Chỗ nào có vũng tự nhiên sâu hơn được vẽ riêng, không lấy nó làm một bản đối ngang với góc cao chỉ vì hai ô rộng bằng nhau.
Trầm muốn cấy dày, hy vọng giữ bùn nhanh. Nụ tới xem, hỏi lối đi nhỏ phía dưới còn trống bao nhiêu nếu rễ kín. Hai người đứng một bên muốn giữ nền, một bên muốn cá qua, chẳng ai chỉ ham lấy hết cho mình. An đặt miếng cữ dưới chân để thấy bề rộng, rồi hỏi có thể cấy thưa trước một đoạn không. Trầm dời hai khóm ra mép, giữ đường nông thông tới chỗ quan sát, không nén thêm rễ vào đó cho đủ bó đã mang.
Khóm còn lại được đem trả vào chỗ lấy trong cùng buổi, trước khi vải khô. An theo Trầm trở lại, trả cả phần công đi thêm vào giờ đã thuê. Anh nhìn vết bàn tay đầu sáng nay vẫn trên mặt đất, cảm giác số rễ ít đi không còn giống thất thoát vật tư. Có thứ được dùng tốt nhất bằng việc đưa về đúng nơi vừa lấy, không cần buộc nó phải ở lại trong một công trình để chứng minh đã mua đủ.
Cuối ngày, họ không mở thêm cửa cho mấy khóm có một bữa nước riêng. Mức và giờ còn chịu bởi bùn, ruộng, nhà thấp và ca cá, cây mới chỉ được đặt trong phần nhịp ấy. An hẹn tới lúc ca thường nhận, Trầm hẹn người trả tiền công chăm vào ngày đã chọn. Chị nhận giữ ô nhỏ như một việc có hạn, ngoài ra vẫn còn phải cắt lau bán, vá chòi và ngủ một đêm không đợi ai gọi đo.
Tuần đầu, lá ở hai khóm rũ xuống. Trầm giữ tay trên dây ngoài, An lấy thước đọc nền; mặt đất chưa vượt dấu khô lẫn dấu giữ lâu, không có một con số tiện để chỉ thủ phạm. Chị muốn nhấc cả gốc xem rễ, Miên xin chọn một khóm đã đánh riêng từ đầu để nếu phải lấy mẫu còn biết phần nào bị động. An phụ lấy rất chậm, giữ đất quanh, mùi rễ còn chắc khác khóm chết đầu bãi.
Họ để mẫu đã nhấc ở chậu cùng đất của nó, không cắm lại rồi tính như khóm chưa từng bị rời. Trầm hỏi có nên bẻ hết lá rũ. Một người già thường cắt lau gần đó tới theo lời mời, chỉ lá bị gãy và lá còn nối, bảo năm nào chị cũng gặp chuyện rũ sau chuyển, có năm sống lại có năm không. An ghi điều người ấy thấy, không đặt cho lời lâu năm một sự chắc mà chính bà vừa tránh nhận.
Ngày nắng, một vệt đất trắng hơn xuất hiện gần ô xới. An nhớ muối Cồn Sậy, muốn mang ngay về đối. Miên giữ hộp mẫu, nhắc lấy cả phần cạnh chưa xới cùng độ sâu và đúng giờ, đừng đem màu giống nhau ở hai vùng thành cùng một thứ. Thứ trắng bóp ra vụn mềm, nước ngâm không cho phản ứng như mẫu mặn đã giữ. Anh ghi chưa rõ thành phần, cất riêng nhãn, không gọi đó là một đợt muối mới đang tới đầm.
Trầm cười bảo ở đây anh nhìn đâu cũng thấy chuyện đồng muối. An đáp có khi nghe tiếng ván anh còn tưởng chân mình sắp chìm lại. Chị im một lúc, đưa anh một đoạn sào nhẹ hơn dùng trong ô nông, chỉ chỗ nền đủ cứng. Anh nhận mà không bước thử ngay để chứng minh mình đã hết ngại. Hai người ngồi ngoài dây, ăn củ khoai chị mang, để mấy lá rũ ở đúng chỗ còn chưa thể biết kết cục của chúng.
Một buổi khác, trẻ trong xóm chạy tới xem ô, đầu dép mắc sợi dây thấp. An đỡ được khuỷu tay đứa đứng gần từ phía lối chắc, bảo cả nhóm lui ra chỗ ghế. Dây vốn không nằm trên đường đi, nhưng trẻ nhìn cây lại chọn đường riêng. Anh cùng Hào chuyển chỗ nhìn sang đầu dễ tới, làm một thanh tựa ngoài nền mềm; cọc vẫn đánh ô, không giăng thành cái bẫy ở ngang chân người đang mải chỉ lá.
Nụ đem tin ngày ấy cá ít, các lạch khác cũng ít. Trầm muốn tìm xem ô lau có chặn một ngả nhỏ không, họ đi với nhau tới tận miệng theo dõi. Lối đã chừa còn thoáng, một chỗ ngoài xa có nước dâng khác giờ. An giữ cả hai lời trong bản, không mừng vì đường mình chưa thấy tắc rồi bảo cá ít chẳng liên can. Chưa đủ biết thì họ giữ ca nhìn thêm, không giấu nỗi lo bằng một lời khỏi trách.
Qua tuần thứ hai, một lá mới nhú ở khóm gần mép xới. Trầm gọi An bằng tay từ phía có thể nhìn, không hét qua cả bãi. Anh tới, ngồi trên thanh tựa đã kê, thấy mũi xanh cuộn nhỏ bên bẹ cũ. Lần này gốc có dấu của khóm họ mang tới, không lẫn lúa sót. Trầm cầm tờ vị trí đưa ra đối trước khi mỉm cười, vì chị đã đi qua bãi đủ nhiều lần để biết một cái mừng cũng có thể nhìn nhầm.
Hai khóm khác không cho lá mới. Một khóm còn chắc, khóm ở vũng thấp chuyển mềm dù giờ nước chung như nhau. Miên đánh khác biệt ấy vào bản cao độ, An muốn làm một rãnh nông để rút phần vũng, rồi giữ tay trên cán. Rãnh mới sẽ đổi điều họ đang xem và có thể dồn sang phần để nguyên; phải đề nghị lượt khác, chứ không chữa ngay rồi kể ba ô đã được cùng đối từ đầu.
Lúc họ lui ra, một con chim nhỏ đậu lên thanh cọc ngoài, rồi nhảy xuống mảng đất vừa xới. An định bước tới đuổi, Trầm giữ tay anh, đưa nhìn cái lá còn cuộn ở phía khác. Con chim nhặt một thứ trong bùn, bay đi, để lại hai dấu chân bên dây. Chị nói nếu dựng lưới kín cho khỏi mất cây, họ sẽ theo dõi một ô bị nhốt khác hẳn bãi muốn có. Cần giữ người khỏi giẫm, còn những phần đầm tự tới phải được nhìn trước khi chọn gạt đi. An đánh dấu vết chân ngoài hình khóm, không tính nó thành cây đã bị phá hay một bằng chứng chim đã trở lại đông.
Hào ra xem với Yến, mang theo một khúc bánh dành sau buổi cân lúa. Anh hỏi có thể nói ruộng mình đã thành bãi lau chưa. Trầm chỉ cái lá cao chưa quá ngón tay, đáp hôm nay có thể nói khóm ấy còn ra lá. Hào nhìn góc trống, thở dài rồi bẻ bánh chia. Yến muốn ngày sau có thứ để cắt bán là thật; chị cũng chưa cần người giữ cửa nhận một mùa lau chưa có thay cho phần tiền đã giao.
An viết cho người giữ sổ một tờ ngắn: cửa đã đưa được các lượt thấp qua phần nhận; ô theo dõi có một khóm ra lá, phần lớn bãi còn trống, chưa có căn cứ mở thêm đất. Anh đưa Trầm đọc bằng lời, để chị sửa một chi tiết số khóm. Dư nhận tờ để kèm bản mùa cũ, không đổi tên bãi trên cả sổ thành bãi đã hồi. Lời nằm trong giấy sẽ đi xa hơn mắt An đang nhìn được chỗ xanh nhỏ này.
Trầm nhận tiếp phần chăm đến hết mùa nước đầu, có người thay khi đi bán. Tiền công gồm giờ xem, làm sạch phần ngoài và ghi cả ngày không có gì mới, không chỉ trả lúc chỉ ra được một lá. Nụ nhận giờ quan sát lối cá riêng. Hào/Yến giữ quyền xem nền khi hết mùa; phần đất để nguyên vẫn đứng đó, có ngày đẹp hơn ô xới, không ai được làm nó xấu đi để ô thử trông đáng công.
Chiều, An và Miên về chòi theo lối cao, cả hai bước chậm vì đã hết ca. Nàng hỏi anh muốn nhớ điều gì của buổi này. Anh định nói cái lá rồi nhìn bờ giày hai người đầy bùn khô, đổi thành muốn nhớ mình đã có thời gian ngồi nhìn nó thay vì gọi một lượt nước nữa. Nàng đưa tay, anh nắm nhẹ, đi qua chỗ thẻ báo treo đang im. Sau lưng, một khóm lau nhỏ giữ chiếc lá còn cuộn, bãi đất quanh nó vẫn rộng và trống dưới trời.
Chương 53: Chiếc cờ trong gió ngược
Quyển III — Mùa bùn thức dậy