Chương 35: Vò nước đầu tiên
Quyển II — Dưới đồng muối
Sang tháng thứ ba ở Cồn Sậy, An bắt đầu nhận ra tiếng bước người múc nước trên bậc mà vẫn không biết ai tới từ phía trái. Những vò mua ngoài bến còn được xếp mỗi sáng, số ít hơn trước, chưa hết. Anh giữ ca cùng bác Kha một buổi sau kỳ cao đã qua, thay mặt thước bằng cặp sạch, đối phần giếng với nước nguồn mới lấy có giờ. Miên ngồi trên bậc, gót chân đã liền, đọc giấy trong bóng tấm chắn.
Kha thả gàu tới dấu quen, kéo lên chậm để không cào bùn ở đáy. Nước trong hơn lượt trước. Bác lấy một bát nhỏ, nếm rồi đứng yên, nhìn lại phần còn trong gàu. An đợi, không muốn lời của mình chui vào miệng người vừa uống. Bác nhờ Miên lấy lượt thứ hai, đổi sang gàu đã rửa để phần nằm ở cán cũ không làm một buổi thành vui quá sớm.
Hai lượt cách nhau một quãng, cùng nằm trong giờ chạy thấp đã nhận. Dấu giữ ở đất còn, nhịp trả đã về đúng dải, nước mới không còn vị sắc kéo ở cuối lưỡi. Kha múc thêm, tự mang tới bếp đun thử phần đã nhận. An đi cùng, nhìn bác rửa nồi bằng nước dành riêng, không đổ mẫu vào một nồi còn nước giếng cũ từ đêm để rồi hỏi vì sao chưa khác.
Nghiêu tới lúc nắp nồi rung. Ông đã cầm được bát bằng cả hai tay, chân mấy ngón còn hơi cứng khi duỗi. Ông chọn một chiếc vò lành của mẻ làm riêng cho giếng, thoa thử quanh miệng, nhờ Thoa nhìn chân lần cuối. Người lò đứng chờ đủ lượt nguội của phần nước đun, mới rót vào. Cái vò nhận nước tới dấu dưới vai, không cao hơn số họ đang thử giữ trong buổi sáng.
An uống sau Kha, vị nước rất thường, nhạt ở đầu rồi mát. Anh đã nghĩ mình sẽ biết nói câu gì khi tới lúc này. Chiếc bát chạm môi, anh chỉ nhận ra đã thôi chờ vị mặn xuất hiện ở cuối. Nghiêu cầm bát của mình, không đem giơ lên trước đám đông ngoài bậc. Ông uống hết, nhờ người giữ cửa lò mang thêm một chiếc ghế để bà mẹ Thực tới còn chỗ ngồi.
Bà tới với một nhúm rau tự trồng ở góc sân còn dùng được, xin thử một nồi nhỏ chứ chưa đem gánh về. Thoa đun phần đã nhận riêng, để bà nêm. Bà quen tay cho muối như những buổi pha nước mua lẫn chút giếng, tới lúc nếm bật cười vì lại thành mặn. Nghiêu giữ phần ấy làm nước chấm, Thoa chia phần chưa nêm ra một bát khác để ai cũng thử được vị nước mới. An ăn một lá rau hơi cứng, nghe bà cười với cái thìa đang cầm. Suốt nhiều tuần anh đã nhìn bà bằng chìa chốt, ô đã ngừng và số lúa nhận. Bây giờ bà ngồi trên ghế sửa bát canh mình nêm quá tay, nhờ Vân lấy thêm một lá non ở rổ, chẳng cần có lời nào về công trình trong quãng ngắn ấy.
Tin lan ra trước khi họ cất các tờ mẫu. Ba người tới với gánh, rồi thêm mấy nhà giữ vò mua nước ngoài cửa. Kha đứng bên giếng, nhắc giờ chạy thấp và dấu phải dừng như những buổi vẫn làm, nhưng tiếng vui che mất đoạn cuối. Một người bắt đầu thả gàu thứ hai khi gàu đầu chưa kéo khỏi. Hai dây xoắn vào nhau giữa chừng, gàu chạm vách nghe khô một tiếng.
An giơ tay, Thoa đặt đòn gánh ngang lối chưa cho người khác chen. Kha kéo chậm, giữ cả hai dây cùng chiều để khỏi giật miệng gàu vào đá. An đỡ cuộn đã lên bằng tay có vải, nhờ người bên ngoài đứng lùi đúng một bậc. Đến khi gàu còn lại rời nước, họ mới cất một dây đi, để phần múc trong buổi được làm qua một chỗ nhìn thấy số.
Mức giếng hạ nhanh hơn những hôm ít người tới. Bác Kha dùng que vòng vải, đọc rồi cho ngừng, dù ngoài bờ vẫn còn vò rỗng. Người vừa đứng cuối hỏi có phải thợ đã mang hết phần tốt cho nhà lò không. Thoa mở vò đầu còn giữ phần đối ở ghế, nói nó dùng đối và chia lượt cho người giữ, chưa đi khỏi đây. Kha đưa que tới cho người ấy sờ dấu, chỉ mực mới thấp hơn khoảng họ đã nhận tiếp tục múc.
An muốn xin giữ thêm một lượt cho những nhà tới xa, nhìn các gánh đặt trên đất khô, rồi thấy phía trả còn đang đúng một dòng hẹp. Múc thêm bằng lời thương người không làm giếng nhận về nhanh hơn. Anh đem bình mua ngoài còn nguyên ra, trả tiền phần mình dùng để chia trong lúc chờ mức hồi, không lấy nước đối đã đo mà gọi thành phần đủ cho cả hàng.
Người góp giếng ngồi lại bàn cách phân những giờ có nước. Nhà ít người và nhà đông người cần phần khác nhau, còn người giữ ca cũng phải ăn ngủ. An giúp đặt cọc lối xếp vò, sau đó lùi ra để họ tính cách chia bằng người dùng thật. Miên ghi mức trong mỗi lượt đã chứng, chừa phần quy tắc để các nhà tự nhận, không đem giá góp tiền của từng nhà dùng làm số bát được uống ngay từ sáng đầu.
Buổi chiều họ đi hai giếng còn lại. Một giếng nước vẫn sắc, một giếng bớt hơn chút nhưng nhận trễ chưa giống giếng đầu. Chủ nhà bên giếng thứ ba đưa An xem chiếc vò đã chờ từ sau tin sáng, hỏi sao ở đây không được múc. Anh xin lấy một lượt mới trước mắt họ, không dùng tờ của nơi kia để chứng giếng nào rồi cũng vậy. Miên đo riêng, ghi đúng phần đã biết và việc còn phải làm.
Đường dưới đất không rẽ đều. Ở một điểm trước giếng thứ hai, bùn giữ sau đầu trả lâu hơn khoảng đã dùng cho giếng đầu; đầu còn lại đi qua chân nhà chưa có quyền mở. An cắm dấu ở ngoài lối, xin hẹn người giữ nhà tới nghe và xem chứ chưa mang cuốc. Người bên giếng mệt vì lại thêm một lời hẹn, bảo giữ nguyên tiền chưa làm cho mình. Anh nhận, không đổi sự hụt ấy thành câu trách họ không biết nhìn xa.
Nghiêu mang bản làm gốm tới, nhận lò đủ giữ các đoạn thay cho đường đầu nhưng không nhận cùng một mẻ giải hết hai giếng khác. Những ngón tay ông đã nhận việc nhẹ, việc giữ lò dài chia lại cho Thoa và người ca cũ. Ông viết được tên mình rõ, ngừng giữa một dòng để duỗi, rồi xin người chép tiếp phần bảng cho khỏi che mất chữ nhỏ vì tay mỏi.
Chị Sâm đặt chiếc lưới đã vá cạnh khớp dự phòng, yêu cầu ca rửa khớp đừng dồn vào đúng giờ nhà chị hạ lưới. Họ ra xem cùng một lượt, đánh dấu thời gian nước còn đục sau lúc làm sạch và phần bùn phải hứng. Kha chọn chuyển giờ rửa lên trước, Miên đối lại khi lạch đổi. Lịch mới làm người giữ phải tới sớm hơn một chút, công được chuyển cùng giờ, không chỉ thay nét trên bảng để chị khỏi phàn nàn.
Tới phần bàn giao, An xếp hai đoạn dự phòng nguyên thẻ bên dụng cụ đẩy từ ngoài. Vân làm lại lượt tháo với Thoa, Kha giữ nhận. Cậu nói chậm, chờ phần dư đúng dải rồi mới mở, có một đầu còn sáng dưới bùn phải để riêng. An đứng sau lối cọc, nghe cậu tự gọi thêm người rọi đèn mà không quay tìm mình. Anh đã dạy câu ấy, vẫn thấy bụng trống một chút khi người khác dùng nó trơn hơn lúc mình có mặt ở giữa.
Trong phòng lò, Vân mở thư nhà. Mẹ cậu kể buổi chợ đã đổi giờ vì sửa cầu, em biết đọc thêm mấy chữ từ bảng ca Cố Kính chép lại. An nghe cậu đọc phần muốn kể, không xin xem cả trang. Cậu hỏi chặng khảo sát đầu đã đủ từ lâu, nếu ở lại thêm để theo chặng khác thì công và tiền về có được nhận lại rõ không. Anh nhìn số ngày ngoài bến, hiểu người học đã đem đúng điều họ nói ở Hạ Ngạn hỏi chính mình.
Họ tính hết công Vân đã làm tại Cồn Sậy, tách ca học gốm khỏi ca giữ mốc thật. Phần đường về ban đầu còn nguyên và có thêm phần cậu tự để dành. Chặng kế chưa được ký, An nhận chưa có quyền bảo cậu phải theo. Vân muốn xem đầm và học thêm gốm từ Nghiêu, hai ý có thể tới lúc phải chọn khác nhau. Cậu viết thư hỏi nhà thời gian cần mình về, giữ bản chào công mới chưa đặt tên dưới cùng.
An nói tối ấy mình đã thấy lạ khi không còn đứng giữa lượt tháo. Vân ngẩng lên, hỏi cậu làm sai chỗ nào. Anh đáp không, cậu làm đúng, cái lạ là phần anh phải học. Cậu ngồi yên một lát rồi kể lần Nghiêu để mình nhìn đất đủ lâu không giành lại thì mới biết tay mình thích chỗ nào. Anh nghe, không lấy câu ấy thành bằng chứng cậu nên ở lại nghề nối hơn nghề gốm.
Trong gói thư còn một mảnh bà Từ gửi nhờ, chữ người khác chép theo lời bà. Bà hỏi nắp túi có còn mắc khi tay ướt không, bảo mưa ở Hạ Ngạn đã có người nhận xem bể, lớp cũ vẫn mở theo những buổi đã chọn. An đọc đi đọc lại câu hỏi về túi, lấy đầu chỉ khâu chỗ góc bắt đầu sờn rồi mới trả lời. Anh viết có một đêm mùi bùn làm mình phải nhờ người giữ thay; không viết đã quen tai trái tới mức chẳng vướng nữa. Bà không ở đây để nhìn mặt khi anh tránh nói, tờ thư cần mang cả phần ấy về. Vân xin giữ phong bì cùng thư nhà mình, chờ chuyến đi ngược sông sau hai ngày. An đưa đủ tiền giấy riêng, không để những câu gửi người thân thành khoản vật tư giếng phải gánh.
Miên mang bản nhận giếng đầu tới, có mức dùng, giờ nghỉ, lần rửa và người giữ; bên dưới ghi hai giếng còn chờ với các tờ mẫu riêng. Phần trả công cuối có một khoản giảm do mức mới thấp, một khoản nhóm tự gánh công sửa. An đếm sau khi đã trừ tiền giấy cô nhận, thấy lời còn ít nhưng không âm như lúc đứng ở bờ nhìn lưới rách. Anh ký phần mình, xin cô giữ bản của người đo trong hộp riêng như vẫn làm.
Mẹ Thực ghé trả chiếc bát ăn hôm lấp kênh, trong bát có ít muối từ phần ô còn được làm của nhà hàng xóm đổi công cho bà. Bà nhờ mang về lò dùng, phần lúa bồi vẫn còn qua những ngày phải ngừng, không phải nhà vừa có giếng ngọt đã đủ mọi bữa. An nhận cả lời ấy, gửi bà một phần nước đã tới lượt mình, hỏi ca mai ai nhận thay nếu bà đi đổi công. Bà đọc tên người đã hẹn, lấy chìa ra cho xem rồi cất lại.
Chiếc vò đầu được đem về ghế ngoài kho sau khi chia hết phần nhận hôm đó. Dưới chân còn một vệt ẩm, An lấy giẻ lau để khỏi trượt, không lau mất dấu nước ở vai. Ngoài bến tiếng gánh nước mua vẫn vang, ít hơn buổi đầu họ tới, chưa im. Anh cùng Thoa nhấc vò rỗng lên giá, chừa nó cho lượt được múc tiếp khi que vòng vải về đúng mực, và thấy bác Kha đã ngồi bên giếng từ trước khi mình quay lại.
Chương 36: Đường lau gửi tiếng
Quyển II — Dưới đồng muối